trường San Marco; chính vì thế mà một bà già đã nói khi thấy tôi phân vân
ngoài bến:
“Lên đi con, cái nào thì cũng đến quảng trường San Marco thôi.”
Thuyền chạy từ bến nước ra ngoài Lagoon. Từ đây, tôi có thể nhìn vào
Venice và những công trình kiến trúc của nó – Byzantine, Gothic, Phục
hưng… Tất cả đều tuyệt vời nhưng rất nhiều trong chúng chỉ còn là những
xác nhà đóng kín và đang được UNESCO bảo quản như di sản văn hóa thế
giới. “Di sản” – đấy là một từ chính xác nữa để mô tả Venice. Một thời
carnival, các lễ hội hóa trang, những bữa tiệc và hòa nhạc không ngừng giờ
chỉ còn lưu dấu ở những chiếc mặt nạ bày bán quanh quảng trường và dọc
các con đường của Venice; các ngôi nhà, phòng hòa nhạc từng ngập các ông
chúa bà hoàng giờ chỉ còn là những hành lang mục nát, tường gạch nham
nhở, nước lên ngập tầng một vào mỗi trận lụt, khiến cho rêu rong nấm mốc
loang lổ.
Venice đẹp, Venice lạ, nhưng không thể ở đây mà không ý thức về sự lụi
tàn. Phải, tiệc vui mấy cũng có lúc tàn và bữa tiệc Venice có lẽ đã tàn từ thế
kỷ XIX. Tôi cũng như mười hai triệu khách du lịch đến đây mỗi năm chỉ
như những khán giả đến nhìn những gì còn vương vãi từ bữa tiệc đó và cố
hình dung về bữa tiệc.
Dù thế, không thể không ngả mũ kính phục người Ý. Họ muốn xây một
thành phố nổi trên mặt nước, vậy là họ xây một thành phố nổi trên mặt
nước. Họ muốn một thành phố như một đại tiệc không dứt, và họ đã có một
thành phố là một đại tiệc không dứt. Cái đến sau là việc của cái đến sau. Sự
lụi tàn trong tương lai không thể là điều ngăn trở sự sản sinh trong hiện tại.
Có lẽ tôi và Sơn nên chia tay.