miếng miểng chai thận trọng chuốt chiếc cán búa mới. Royal khắc một
chuỗi mắt xích nhỏ xíu trên một cành thông nhẵn bóng và Alice ngồi trên
chiếc gối quì đang o bế những món đồ len thêu. Tất cả đều ăn bắp rang, táo
và uống rượu táo ngọt, ngoại trừ Eliza Jane. Eliza Jane đang đọc lớn những
tin tức trên tờ tuần báo New York.
Almanzo ngồi trên chiếc ghế kê chân gần lò sưởi, một trái táo trong bàn
tay, một chén bắp đặt bên cạnh và một ca rượu táo ngọt đặt dưới đất gần
bàn chân. Cậu cạp táo, nhai thêm vài hạt bắp rang rồi uống rượu táo ngọt.
Cậu đang nghĩ về món bắp rang.
Bắp rang là đặc sản Mỹ. Ngoài trừ người da đỏ, không một ai biết bắp rang
cho tới sau khi tổ tiên của dòng Pilgrim đặt chân tới Mỹ. Vào dịp lễ Tạ Ơn
đầu tiên, những người da đỏ được mời tới dùng bữa. Họ đến và trút lên bàn
một túi lớn đựng đầy bắp rang. Những người trong dòng Pilgrim không biết
đây là thứ gì. Người da đỏ đã rang bắp nhưng có lẽ chưa ngon lắm. Bởi họ
không thêm bơ, không thêm muối và đã để bắp nguội đi, cứng ngắc sau khi
chuyển đi trong một chiếc túi da.
Almanzo ngắm từng hạt bắp trước khi ăn. Tất cả đều có hình thù khác
nhau. Cậu đã ăn hàng ngàn nắm bắp rang và chưa bao giờ tìm được hai hạt
bắp giống nhau. Rồi cậu nghĩ đến, nếu thêm sữa thì cậu sẽ có bắp rang
ngào sữa.
Chỉ cần lấy một chiếc ly đổ đầy sữa và một chiếc ly khác đầy bắp rang rồi
lần lượt bỏ từng hạt bắp rang vào trong sữa cho tới khi hết bắp mà sữa
không tràn ra. Làm thế này không phải là làm bánh. Bắp rang và sữa vẫn là
hai thứ được đặt chung lại.
Như thế cũng khá ngon để ăn. Nhưng Almanzo không đói lắm và cậu biết
má không muốn xoong sữa bị khuấy động. Nếu sữa bị khuấy trong lúc đang
chuyển thành kem thì kem sẽ không dày. Thế là Almanzo ăn một trái táo
khác, uống rượu táo ngọt với bắp rang và không nói gì về món bắp ngào
sữa.
Đã đến giờ ngủ, khi chiếc đồng hồ gõ chín tiếng, Royal cất chuỗi mắt xích,
Alice cất mấy món đồ len. Má cắm những cây kim vào chỉ và ba lên dây
đồng hồ. Ba đặt thêm một khúc cây vào trong lò và đóng những cánh chặn.