8. PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG HỌC TẬP
Nhiều ví dụ kể trên cho thấy những cách tân về cơ sở hạ tầng học tập
thường là một yếu tố chủ yếu của các chiến lược học tập hiệu quả như thế
nào. Khi các tổ chức như Intel, Ford, Tổ chức năng lượng DTE hay Nike
tạo ra hay tái định nghĩa các vai trò quản lý để hỗ trợ sự suy ngẫm hay suy
nghĩ hệ thống, thì họ tạo ra cơ sở hạ tầng học tập. Tương tự như thế là các
nhà quản lý thiết lập các khu vực thực hành thường ngày hoặc đầu tư vào
công nghệ để chia sẻ thông tin và cho phép các nhóm làm việc kết nối với
nhau dễ dàng hơn. Tuy nhiên khu vực đó thường bị bỏ sót - có lẽ bởi vì sự
đổi mới trong cơ sở hạ tầng không ấn tượng bằng việc tuyên bố các ý tưởng
định hướng mới, hoặc cụ thể bằng các công cụ và phương pháp mới.
Nhưng việc tuyên bố các ý tưởng định hướng không đồng nhất với cách
phân bổ nguồn lực cũng chẳng có ý nghĩa gì, cũng như không có ích lợi gì
khi giới thiệu các công cụ và phương pháp cho nhân viên trong khi họ
không có cơ hội để áp dụng.
Cơ sở hạ tầng học tập tạo điều kiện cho sự học tập. Lịch sử của phong
trào quản lý chất lượng ở Nhật là một ví dụ mạnh mẽ về tầm quan trọng của
cơ sở hạ tầng học tập. Trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, các
chuyên gia như W. Edwards Deming và Joseph Juran dạy cho các nhà quản
lý cao cấp các nguyên tắc cơ bản (các ý tưởng định hướng - guiding ideas).
Theo đó, nhiều người được huấn luyện về các công cụ cơ bản như kiểm
soát quy trình về mặt số liệu thống kê. Nhưng nhiều năm sau, một vài công
ty như Toyota nhận thấy họ cần huấn luyện các công nhân sản xuất về các
công cụ đó, và, quan trọng hơn hết là, xác định lại trách nhiệm công việc
của họ để họ có quyền phân tích và cải tiến quy trình làm việc của chính
họ. Nếu không có những thay đổi về trách nhiệm công việc, quản lý chất
lượng có thể vẫn còn là trách nhiệm của các chuyên gia - chứ không phải
chính các công nhân - và việc học tập và làm việc không thể được tích hợp
hiệu quả.