inch. Có thể thấy con ngựa qua làn mưa bụi trước cửa ra vào, bữa sáng của
tôi được bày lên bàn, bữa sáng của Drummle được dọn đi, người hầu bàn
mời tôi bắt đầu dùng bữa, tôi gật đầu, cả hai chúng tôi đều đứng nguyên tại
chỗ.
“Từ đó anh đã bao giờ tới Khu Rừng chưa?” Drummle hỏi.
“Chưa,” tôi đáp, “tôi đã quá ngán các quý ngài Sẻ từ lần cuối cùng
tôi ở đó.”
“Có phải đó là lúc chúng ta có một bất đồng quan điểm không nhỉ?”
“Phải,” tôi đáp cộc lốc.
“Nào, nào! Bọn họ đã cho anh thoát khá dễ dàng,” Drummle mỉa
mai. “Đáng ra anh không nên mất bình tĩnh.”
“Anh Drummle,” tôi nói, “anh không đủ tư cách để đưa ra lời khuyên
về chủ đề ấy. Khi tôi mất bình tĩnh (không có nghĩa là tôi thừa nhận đã như
vậy vào dịp đó), tôi không ném ly.”
“Tôi thì có,” Drummle nói.
Sau khi đưa mắt nhìn anh ta một hay hai lần trong trạng thái mỗi lúc
một hung tợn hơn, tôi nói:
“Ông Drummle, tôi không tìm kiếm cuộc đối thoại này, và tôi không
nghĩ nó dễ chịu.”
“Tôi tin chắc là không,” anh ta nói, khinh khỉnh nhún vai, “tôi chẳng
nghĩ gì về nó cả.”
“Và vì thế,” tôi nói tiếp, “nếu anh cho phép, tôi sẽ đề nghị là chúng
ta không duy trì bất cứ hình thức liên lạc nào trong tương lai.”
“Cũng đúng như quan điểm của tôi,” Drummle nói, “và cũng là điều
hẳn chính tôi sẽ đề nghị, hay rất có thể hơn sẽ làm mà không cần đề nghị.
Nhưng anh đừng mất bình tĩnh. Chẳng phải anh cũng đã mất đủ rồi sao?”
“Ý anh là sao?”
“Hầu bàn!” Drummle gọi, thay vì trả lời tôi.
Người hầu bàn lại xuất hiện.