PHẬT GIÁO NAM TÔNG TẠI VÙNG NAM BỘ
50
Thủ Đức). Năm 1938, chùa Bửu Quang
19
chính thức được khởi công
xây dựng, chùa được xây dựng trên mảnh đất ông Bùi Ngươn Hứa
hiến cúng, diện tích trên hai mẫu. Theo kiến trúc ban đầu xây dựng,
chùa gồm một chính điện với tám liễu thất kiểu nhà sàn mô phỏng
theo kiến trúc ở Campuchia nhằm để cho chư tăng trú ngụ. Như
vậy, về cơ bản nhóm của cụ Nguyễn Văn Hiểu đã hoàn thành xong
việc chọn nơi và hoàn tất xây dựng chùa. Công việc tiếp theo, là
thỉnh các hòa thượng ở chùa Sùng Phước ở Campuchia về hoằng
pháp và cuối cùng thực hiện lễ kết giới Sīma cho chùa Bửu Quang.
Năm 1939, từ Campuchia các Hòa thượng: Hộ Tông, Thiện Luật,
Huệ Nghiêm, hòa thượng người nước ngoài về chùa Bửu Quang để
hoằng pháp. Đây là dấu mốc quan trọng của Phật giáo Nam tông
truyền về Việt Nam.
20
Tháng 4/1939, tại chùa Bửu Quang, Tỳ khưu
Thiện Luật, tổ chức quy y thọ giới tập thể cho ông Nguyễn Văn
Hiểu, ông Nguyễn Văn Quyến, ông Ba Lý, ông Hương, ông Núi
(nay Thiền sư Bửu Hạnh), ông Nguyễn Văn Mum (cố Tỳ khưu Tuệ
Quang sau này), gia đình ông chủ đất Bùi Ngươn Hứa cùng thân
bằng quyến thuộc, bạn bè.
Sự kiện tiếp theo và quan trọng nhất đó là lễ kết giới Sīma đối với
một ngôi chùa. Ngày 15/4/1940, phái đoàn truyền giáo của Hòa
thượng Hộ Tông và nhóm cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu thỉnh đức vua Sãi
Chuôn Nath và 30 vị Hòa thượng, Thượng tọa người Campuchia
sang Việt Nam đến chùa Bửu Quang để thực hiện nghi thức kết giới
Sīma theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Trong đoàn có ba
vị sư người Việt Nam: Hòa thượng Thiện Luật và Hòa thượng Huệ
Nghiêm và Hòa thượng Hộ Tông. Sau lễ kết giới Sīma, Hòa thượng
Huệ Nghiêm thuyết pháp để giải thích cho Phật tử hiểu về ý nghĩa
buổi lễ Kết giới Sīma.
21
Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, thực dân Pháp tiến
19. Chùa có tên gọi là Ratanaransyaràma.
20. Thiện Minh (2017), Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 48.
21. Thiện Hậu (2017), Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam (1938-1963), NXB Hồng Đức, Hà Nội,
tr. 55-56.