SƠNNAM
TIẾP CẬN VỚI
ĐỒNG BẰNG
SĨNG CỬU LONG
dãi không hay kiêng cữ, sau buổi tụng kinh khóc kể
thì hòa đờn, mà đờn bản vui cũng bất chấp, đổ thừa
cho “sự vong như sự tồn”, đờn cho người quá cố nghe
chơi như thuở còn sống. Và khi đưa lên Sài Gòn để
cầu chứng, công khai và hợp thức hóa, nâng cải lương
lên như một bộ môn nghệ thuật lớn, thì phải hát tuồng
Hoàng tử Cảnh nhờ Bá Đa Lộc đi cầu viện, tuồng Pháp
Việt nhất gia, “thuở ấy phải vậy mới được vì không
nói chuyện “nhứt gia” thì Tây không cho hát”. Trong
nhóm lập gánh hát “thân Pháp” này có Hồ Biểu Chánh,
Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Quang
Liêm, Đặng Thúc Liêng là người thân Pháp, đáng cho
Pháp tin cậy. Nhưng rồi, sau đó với chút ít cải tiến
về kỹ thuật, năm 1922 đoàn hát của thầy Năm Tú (đã
thành công ở Mỹ Tho) lên Sài Gòn ra mắt, nhưng với
tuồng tích có nội dung tốt hơn, do Trương Duy Toản
biên soạn theo Kim Vân Kiều.
Tôi hiểu đây là sự cựa quậy của người dân xứ thuộc
địa trong hoàn cảnh “khủng hoảng về ý thức hệ”, giai
cấp công nhân chưa trưởng thành; giai cấp tư sản và
từng lớp điền chủ thử lãnh đạo. Tạm gọi là hệ “tư sản
cải lương”.
Cải lương ra đời, tuồng hát bội vẫn còn vị trí mạnh,
phát triển song song. Bà Phùng Há (theo Văn Hóa Thông
Tin, xuân Canh Thìn năm 2000, trang 21) từng phát
biểu: “Suốt cuộc đời hoạt động cho sân khấu cải lương,
tôi vẫn luôn kính trọng và ái mộ những nghệ sĩ tài ba