319
lương ở Sài Gòn chỉ là khoảng 8 năm (1910-1918). Là
sự đóng góp tập thể, khó nói là do công lao của cá nhân
nào. Phải có nhiều người không giỏi đàn ca chịu tích
cực khuấy động, có người theo Tây học, theo Hán học.
Vương Hồng Sển viết trong Hồi ký 50 năm mê hát (cơ
sở xuất bản Phạm Quang Khai, Sài Gòn 1968):
- “Căn cứ theo sách vở thâu nhập và những lời của
người lớn tuổi hơn tôi kể lại, và nếu tôi không lầm thì
buổi sơ khởi của cải lương là do sự ngẫu nhiên, sự tình
cờ, là do lòng ái quốc mà nên”. “Lòng ái quốc của một
số người bị mất nước, cố tìm lối trồi đầu lên để cho tinh
thần quốc gia còn tồn tại”. (Câu này VHS cho in chữ
xiên). Người miền Nam có cái hay, là khi biết dùng bạo
lực chỉ hại thân vào tù thì họ không dùng bạo lực. Họ cố
đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài
lêu lổng chơi bời (...). Những người có đầu óc thì kẻ bị
lưu đày bắt bớ, còn sót lại người dư dả, của có thừa, lại
giả kế ăn chơi cờ bạc để đánh lạc đường quân thám tử.
Cũng may thay, đờn ca bài bạc thét cũng chán, do đó
họ tìm được một mục đích cho cuộc đời. Và cũng do
đó, trong giới đờn ca thấy nghề mình bớt bị khinh bạc
lại thêm được trọng vọng là khác, nên thường tụ họp
trong phòng các nhà khá giả hoặc chỗ đô hội như tiệm
hớt tóc, tiệm may hay là thợ bạc, vừa trau dồi nghệ thuật
vừa tập ca cho vui”.
Vương Hồng Sển ghi lại “Thuở ấy ở miền quê chỉ
có nhạc lễ dùng vào dịp đám tang, khổ chủ tánh dễ