145
ở ngực và phần cuối ở bụng. Khi chúng ta thở ra, thì đi
ngược lại. Chỉ việc nhận biết hơi thở ở chót mũi, ở
ngực và ở bụng. Chúng ta chỉ nhận biết ba điểm này để
giữ vững tâm, hạn chế bớt những hoạt động tâm trí để
chánh niệm có thể phát sinh dễ dàng. Khi sự chú ý của
chúng ta đã ổn định tại ba điểm này rồi, chúng ta tập
trung tại một đìểm duy nhất thôi - tại chót mũi hay môi
trên, nơi không khí đi ra và đi vào. Chúng ta không cần
chạy theo hơi thở nữa, nhưng chỉ thiết lập chánh niệm
tại chót mũi, nhận biết hơi thở tại một điểm này thôi đi
vào, đi ra, đi ra, đi vào.
Không cần phải suy tư về một điều gì đặc biệt, chỉ
việc tập trung vào công việc giản dị này trong hiện tại,
đó là nhận biết sự hiện diện liên tục của tâm. Không
bao lâu, tâm trở nên bình an, hơi thở trở nên vi tế,
thân tâm trở nên nhẹ nhàng. Đây là kết quả của công
phu hành thiền. Khi ngồi thiền, tâm trở nên thanh nhẹ,
nhưng bất cứ trạng thái của tâm là gì, chúng ta nên cố
nhận biết nó. Những hoạt động tâm trí xảy ra cùng với
sự tĩnh lặng. Chi thiền Tầm (Vitakka
29
) sẽ hiện diện.
Tầm là sự kéo tâm về với đối tượng quan sát. Nếu
không đủ chánh niệm, thì không có nhiều Tầm. Theo
sau đó là Tứ (Vicāra). Tứ nghĩa là tâm bám chặt vào đối
tượng. Những ấn tượng mờ nhạt có thể nảy sinh đây
đó, nhưng điều quan trọng là bất cứ gì xảy ra, chúng ta
liên tục nhận biết nó. Khi chúng ta vào sâu hơn, chúng
29
Ở Sơ thiền có 5 chi thiền: 1. Tầm (Vitakka: sự hướng tâm về đối
tượng quan sát); 2. Tứ (Vicāra: Tâm dán chặt vào đối tượng);
3.Hỷ (Pīti: tâm hoan hỷ); 4.Lạc (Sukha: Thân tâm nhẹ nhàng, dễ
chịu); 5.Nhất tâm (Ekaggatā: Tâm an trú trên đối tượng, hay
nhập định).