Nhĩ Kỳ (1809 – 1812). Trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812 ông
là người đề xuất phương án tổ chức chiến tranh du kích trong lòng địch
và đã rất thành công với cuộc chiến tranh này. Năm 1814 ông được
phong hàm tướng, năm 1823 ra quân và đến năm 1826 trở lại phục vụ
quân đội ở vùng Kapkage. Năm 1832 ông về hưu sống ở trang trại tại
tỉnh Simbirsk và mất ngày 04 tháng 5 năm 1939 tại đây.
Denis Davydov chưa bao giờ tự nhận mình là một nhà thơ hay nhà
văn, ông viết: “Tôi không phải là nhà thơ mà là người du kích, người
lính Cô-dắc, tôi là nhà thơ không theo vần điệu mà theo tình cảm tự
nhiên”. Mặc dù vậy, ông đã để lại cho đời sau một sự nghiệp văn học
đáng kể cả thơ trữ tình lẫn văn xuôi. Nhà phê bình Vissarion Belinsky
viết về Denis Davydov: “Ông là một nhà thơ từ trong tâm hồn, đối với
ông cuộc đời là thơ ca và thơ ca là cuộc đời, ông thi ca hóa tất cả mọi
thứ, những gì mà ông chạm đến… Như một nhà thơ, ông thuộc hàng
những vì sao sáng nhất trên bầu trời thi ca Nga… Như một nhà văn,
ông có quyền ngồi chung chiếu với những nhà văn xuất sắc nhất của
văn học Nga”.
Những tác phẩm xuất sắc nhất của Davydov còn giá trị đến ngày nay là
mảng thơ trữ tình. Mặc dù là một vị tướng và các bạn bè của ông,
trong số họ có cả Aleksandr Puskin, khuyên ông làm thơ lính nhưng
thơ ông hầu như không nói gì về chiến tranh mà chỉ viết về rượu, về
tình yêu, về những cuộc truy hoan… mà một số bài thơ trích giới đây
cho thấy điều đó.
Thư mục:
• Русский биографический словарь, изд. Русского исторического общества, - СПб., 1905 (ст. А. Петрова).
• Садовский Б., «Русская Камена», - М., 1910
• Жерве В. В., Партизан-поэт Давыдов, СПб., 1913.
• Розанов И. Н., Русская лирика. От поэзии безличной к исповеди сердца, - М., 1914.
• Мезьер А. В., Русская словесность с XI по XIX ст. включительно, ч. II, - СПб., 1902.