ẤN QUANG ĐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC - Trang 266

50

.

Ý nói: kinh điển lưu truyền như thế nào thì cứ chép đúng y như thế, đừng

tự tiện sửa đổi theo ý riêng

51

.

Gọi là “thuần viên” vì chỉ giảng về pháp viên đốn, gọi là “độc diệu” vì chỉ

mình kinh Pháp Hoa phô bày diệu nghĩa “hội tam quy nhất”.

52

.

Năm bộ lớn là cách phán giáo chia kinh điển đức Phật đã nói ra làm năm

thời kỳ: Hoa Nghiêm, A Hàm, Bát Nhã, Phương Đẳng và Pháp Hoa - Niết
Bàn.

53

.

Tam luân thể không: bản thể của ba luân đều không, tức là không thấy có

người thí, không thấy có người nhận, không thấy có vật được dùng để bố thí.

54

.

Lệnh nghiêm: tiếng gọi cha người khác một cách tôn kính.

55

.

Dương Tử tức là Dương Châu (Chu), tên tự là Tử Cư, người thời Chiến

Quốc, chủ trương thuyết “vị ngã”: dù là làm điều lợi nhỏ nhặt dù bằng cái
lông cho người khác cũng chẳng chịu làm.

56

.

Ý nói khuyên nhủ, khuyến dụ dần dần.

57

.

Tông Lâm Tế dùng gậy (bổng) và tiếng hét (hát) để khai ngộ thiền cơ.

58

.

Nhàm lìa (yểm ly) cõi Sa Bà, vui thích (hân nhạo) cõi Cực Lạc.

59

.

Cao đường: tiếng dùng để tỏ vẻ tôn kính mẹ người khác.

60

.

Văn tự tri kiến: sự thấy hiểu dựa theo phân biệt, nhận định ý nghĩa của

kinh văn, chứ không lãnh hội trực nhập được huyền nghĩa, yếu chỉ.

61

.

Tăng sĩ đi tham học các nơi gọi là du phương hành cước.

62

.

Đạo Chích: tên một kẻ trộm lừng danh thời cổ, thường dùng để chỉ kẻ

trộm.