danh dư ̣.>
<Danh dư ̣ á,> Tobias nha ̣o báng. <Hắn là mô ̣t tên giết người máu la ̣nh.
Hắn là kẻ xâm lăng đang ở trên mảnh đất của người khác. Hắn đúng là mô ̣t
tên cướp. Kẻ sát nhân thı̀ không có danh dự.>
<Thôi để tôi đi cho bồ ngủ la ̣i.>
<Đưưươ ̣ơ ̣ơ ̣ccc rồi. Bồ muốn thı̀ cứ đi đi.> Tobias nhı̀n quanh, mắt
nhấp nháy, như mô ̣t người không thấy đường trong bóng tối. <Nhưng dù sao
thı̀ cũng khó mà ngủ la ̣i đươ ̣c lúc trời mưa như thế này.>
<Tobias này, cái con chim mà Visser Ba biến thành ı́ mà, là mô ̣t loài
chim ở xứ Andalite, có tên là chim kafit. Nó đến từ hành tinh quê nhà của
tôi.>
<Bồ đang nghı̃ gı̀ thế? Rằng hẳn Visser Ba đã từng tới thế giới Andalite
của bồ để thu na ̣p nó sao?>
<Ừ, đúng thế. Tôi e rằng con quái vâ ̣t đó đã đă ̣t chân lên quê nhà
Andalite của tôi rồi.>
Tôi thấy Tobias trở nên căng thẳng. Bấy giờ câ ̣u ấy đã bắt đầu hiểu ra.
Nhưng câ ̣u ấy nói. <Đôi khi, con người ta buô ̣c phải đưa những con vâ ̣t
trên quê hương mı̀nh đi khỏi đó, phải không? Ý mı̀nh là, giống như kiểu ta
có thể tı̀m thấy mô ̣t con sư tử Phi châu ở trong vườn bách thú ta ̣i Mỹ, châu
Âu hay ở đâu đó khác nữa, phải không? Vâ ̣y thı̀, có ai đó hoàn toàn vô ha ̣i
mang mô ̣t trong những con chim này ra khỏi hành tinh của bồ và trên đường
đi ho ̣ bi ̣ cưỡng đoa ̣t mất hoă ̣c đa ̣i loa ̣i như thế. Và cuối cùng, con chim này
la ̣i nằm trong tay của Visser Ba.>
Tôi muốn tin rằng điều Tobias là sự thâ ̣t, nên tôi nói, <Ừ, có thể lắm.>
Nhưng thư ̣c lòng thı̀ tôi không tin lời câ ̣u ấy nói. Tôi cho rằng Visser Ba
hoă ̣c là đồng bo ̣n của hắn đã từng đă ̣t chân lên thế giới Andalite của tôi
rồi. Bất kể là thế nào đi nữa thı̀ nó cũng chı̉ có mô ̣t ý nghı̃a duy nhất: bo ̣n
Yeerk đã nhăm nhe đến tâ ̣n mô ̣t nơi an toàn trên dải ngân hà - quê hương
tôi.