<Mi là người la ̣ từ hành tinh khác đến,> tôi nhủ thầm. <Và hơn nữa, mi
vốn là loài ăn cỏ, chứ không phải loàn ăn thi ̣t.>
Có lẽ tôi không phải là người đánh giá cao những thói quen của Người.
Tôi hiểu về sư ̣ tiến hóa của loài người đa ̣i để rằng: tổ tiên của ho ̣ ngày xưa
sống thành những bầy đàn chuyên đi săn và ho ̣ không bao giờ bằng lòng
với ý tưởng chı̉ ăn cỏ.
Khi trở về lòng máng, tôi bâ ̣t tivi lên sau khi chı̉nh trang la ̣i dây nhơ ̣.
Tôi đứng sát màn hı̀nh để cho ̣n kênh, nhı̀n những màu sắc và hı̀nh ảnh lướt
qua. Mô ̣t phu ̣ nữ đang hát. Mô ̣t phát thanh viên trang tro ̣ng loan tin về mô ̣t
số người dân đi ̣a phương bi ̣ mất tı́ch. Răng và kem đánh răng. Mô ̣t chiếc
bánh ke ̣p pho mát trông thâ ̣t ngon lành.
Chẳng có gı̀ đáng xem. Tôi tắt tivi đi.
Có tiếng vỗ cánh rô ̣t ra ̣t phı́a trên đầu tôi. Tobias lướt xuống tı̀m chỗ
đâ ̣u, móng vuốt quă ̣p chă ̣t mô ̣t vâ ̣t nhỏ màu đen, hı̀nh chữ nhâ ̣t. Câ ̣u ấy nhả
nó ra rồi xổ cánh lên đâ ̣u trên cành cây gần nhất.
<Mô ̣t món quà cho
chú nè, chú Ax
.>
Tôi cầm cái vâ ̣t hı̀nh chữ nhâ ̣t đó lên. Ở mô ̣t mă ̣t của nó có những nút
bấm màu xám ghi số và mũi tên.
<Cái gı̀ vâ ̣y?>
<À, remote, cái điều khiển từ xa của tivi đó mà. Cháu đã phát hiê ̣n ra
nó trong thùng rác.>
Remote tivi? Remote là gı̀ nhı̉? <Cám ơn Tobias, nhưng chú không