<Theo mı̀nh cái từ này mà chú Ax nghe thấy sẽ thấy chuẩn lắm đó.>
Me ̣ tôi lên xe buýt. Tôi sà xuống, quờ qua ̣ng trên nóc chiếc xe buýt bỏng
rẫy. Chẳng có gı̀ trên nóc xe để cho tôi bám cả. Nhưng có hai cái đinh tán
tı́ ni ̣ nhô lên và tôi tho ̣c những đầu nho ̣n của móng vuốt vào những cái lỗ
đó, giữ mı̀nh đâ ̣u chênh vênh trên nóc xe.
Hổng phải kiểu du li ̣ch ưa thı́ch của tôi.
Chiếc xe buýt rùng mı̀nh ầm ầm chuyển bánh, hòa vào dòng xe cô ̣ trên
đường, bắt đầu tuyến đường dài năm phút tới siêu thi ̣. Hên cho tôi là nó
không bao giờ cha ̣y quá tốc đô ̣ mười hay mười lăm dă ̣m
[17]
mô ̣t giờ. Cúi
thấp đầu ta ̣o thành da ̣ng khı́ đô ̣ng, tôi có thể chi ̣u đựng đươ ̣c sức gió.
Thư ̣c ra, tôi có thể bay kè theo xe buýt từ trên không. Mà bay như thế dễ
chi ̣u hơn nhiều.
Còn hai dãy nhà nữa là tới bến đỗ trước cửa Siêu thi ̣ JC Penney, tôi rời
khỏi nóc xe buýt, đâ ̣p cánh lấy đô ̣ cao. Có mô ̣t con ó biển gần mă ̣t đất xuất
hiê ̣n.
Tôi kiểm tra tı̉ mı̉ khu vực, tı̀m kiếm những khuôn mă ̣t quen thuô ̣c. Tôi
tia thấy ánh mắt trừng trừng của mô ̣t con chim ưng Peregrine.
Jake đâ ̣u trên đı̉nh mô ̣t ngân hàng nằm bên lề bãi đâ ̣u xe bên ngoài siêu
thi ̣.
<Cho đến giờ, tu ̣i mı̀nh thực hiê ̣n đúng như kế hoa ̣ch,> tôi báo cáo.
<Bồ có chắc là lão Chapman nhı̀n thấy Visser Mô ̣t không?>
<Ồ, có chứ. Lão ta nhı̀n thấy bả. Người hắn gần như là ướt sũng.>
<Tốt. Kế hoa ̣ch vẫn tiếp tu ̣c chứ hả?>
<Tu ̣i mı̀nh chı̉ còn biết hy vo ̣ng thôi.>
<Có dấu hiê ̣u nào cho thấy quân đô ̣i riêng của Visser Mô ̣t ở đâu đó
không?>
<Tu ̣i mı̀nh làm gı̀ có đủ thời gian để kiểm tra hết tất cả mo ̣i người chớ,>
tôi nói. <Mấy đứa khác sao rồi?>
<Rachel và Cassie đang ở đúng vi ̣ trı́ của tu ̣i nó rồi. Ax cần phải lên núi
sớm. Mı̀nh nghı̃ tu ̣i mı̀nh có thể yên tâm rằng Erek sẽ ở đó, đúng li ̣ch
trı̀nh.>
<Thế là đươ ̣c rồi, Tobias ơi,> tôi go ̣i.