kỳ quái. Ổng đứng đó, bao quanh bởi những quái vâ ̣t cao chừng hai mét, bi ̣
quan sát bởi mô ̣t người Andalite trông có vẻ hòa hiếu, mô ̣t chú diều hâu,
và mô ̣t con ngỗng trong mô ̣t cái váy trẻ em xấu tê ̣.
Ấy thế mà ổng vẫn là người la ̣ lùng nhất trong số đó. Và, với tôi, ổng
còn la ̣ lùng hơn cả bởi lẽ tôi có thể nhı̀n thấy, hay tôi cảm thấy rằng mı̀nh
có thể nhı̀n thấy, mô ̣t nỗi buồn sâu thẳm không giải thı́ch nổi ẩn sau đôi mắt
long lanh không chút người nào ấy.
“Đây hẳn là những con người,” người Arn gâ ̣t gù, nói. “Ừ, ta đã ở cả
mô ̣t ngày trời trên quỹ đa ̣o để ho ̣c nói ngôn ngữ của bo ̣n mi. Bo ̣n mi có rất
nhiều ngôn ngữ thú vi ̣, nhưng cơ thể sinh vâ ̣t ho ̣c của bo ̣n mi la ̣i chẳng có gı̀
hay ho. Hai cánh tay, hai cẳng chân, và mô ̣t nền tảng không cân bằng. Mô ̣t
sư ̣ thiếu thốn rõ rê ̣t về mă ̣t vâ ̣t lý ho ̣c: sự đối xứng đơn điê ̣u ở hầu hết các
bô ̣ phâ ̣n.”
“Vâng, cũng hân ha ̣nh đươ ̣c gă ̣p ông,” Rachel dài gio ̣ng. “Ông đến đây
có chuyê ̣n gı̀, ông muốn gı̀?”
“Ta là người Arn.”
<Chúng tôi biết về người Arn,> Tobias nói. <Chúng tôi biết giống loài
của ông.>
Giả sử sinh vâ ̣t có că ̣p mắt sáng long lanh ấy có bi ̣ choáng vı̀ nghe thấy
mô ̣t con chim tuyên bố về mı̀nh như thế thı̀ ổng cũng không để lô ̣ ra.
“Tên ta là Quafijinivon,” ông ta tự giới thiê ̣u. “Giống loài mà mi khẳng
đi ̣nh là có biết không còn nữa đâu. Và ta là người Arn cuối cùng còn tồn
ta ̣i…”