Hổng hiểu Gafinilan có nổi sùng vı̀ sự ép buô ̣c của Jake không, ổng
hổng để lô ̣ ra, nhưng sư ̣ kiê ̣t sức và tuyê ̣t vo ̣ng đã khiến ông phải chấp
nhâ ̣n.
<Mertil bi ̣ thuyên chuyển suốt đêm ngày,> ông nói sau mô ̣t hồi im lă ̣ng.
<Anh ấy không bao giờ ở mô ̣t nơi lâu hơn mô ̣t tiếng. Và không bao giờ ở
mô ̣t nơi hai lần.>
“Ta ̣i sao chúng không giữ anh ấy ở trong vũng Yeerk?” Rachel thắc
mắc. “Ở đó có nhiều lồng cũi trống và du ̣ng cu ̣ tra tấn lắm mà.”
<Tôi nghı̃ Visser Ba lo sơ ̣ bi ̣ đô ̣t kı́ch,> Gafinilan trả lời. <Hắn không
tin tôi chu tất cuô ̣c mă ̣c cả, mà nghi ngờ tôi gia nhâ ̣p lực lươ ̣ng du kı́ch đã
khiến hắn hao tâm tổn sức bấy nay. Y như tôi đang làm đây.>
“Vâ ̣y thı̀, Mertil ở trên mô ̣t phương tiê ̣n chuyên chở,” Cassie suy luâ ̣n.
“Xe tải, xe ngựa hay xe gı̀ đó. Làm sao tı̀m ra nó đây? Trinh sát trên
không…”
Ax cất lời. <Chúng ta không thể liều ma ̣ng vı̀ mô ̣t vecol.>
“Ồ, chiến hữu,” tôi lı̀ xı̀. “Tui không ngờ bồ la ̣i câu nê ̣ chuyê ̣n tàn tâ ̣t
này, bởi vı̀ bồ là thành viên của nhóm mà. Nhưng nếu bồ xét nét anh chàng
đó như vâ ̣y thı̀ bồ không thuô ̣c nhóm tu ̣i mı̀nh rồi.”
<Tôi không bao giờ giả bô ̣ là con Người.> Ax tuyên bố.
Rachel na ̣t. “Bồ thâ ̣t là quá quắt, Marco. Mı̀nh có phải nhắc la ̣i
lời bồ
khi nói về
Hewlett Aldershot,
anh chàng bi ̣ hôn mê và sống đời thực vâ ̣t
…
không… gươ ̣m đã… chı́nh xác là sống đời của mô ̣t củ cà-rốt không đây?”
“Hổng ăn nhâ ̣p gı̀ hết tro ̣i,” tôi cãi. “Tui nói chuyê ̣n tiếu lâm chứ có ý
xı̉ vả gı̀ đâu.”
“Hành đô ̣ng thı̀ tốt hơn là nói suông đó,” Cassie nhe ̣ nhàng phát biểu.
“Cảm ơn bồ. Có thể hổng phải lúc nào tui cũng nói đúng, nhưng hầu như
lần nào tui cũng làm, hay ı́t ra thı̀ cũng cố gắng làm điều đúng đắn. Mu ̣c
đı́ch của tui,” tôi cười tự mãn rồi nói nốt câu bỏ dở, “là tốt mà.”
<Đây chẳng phải là về Marco,> Tobias rù rı̀. <Mà là về Mertil. Mertil
là shorm của Gafinilan. Chú Ax, chú không hiểu…>
“Dù Ax có hiểu hay không,” Jake xen ngang, “chúng ta cũng làm, hiểu
chưa? Tốt! Gafinilan, ông có liên la ̣c đươ ̣c với Mertil không?”