cánh tay lão. Lão làm mặt giận dữ, song sức phản kháng của lão yếu
hẳn.
“Chiếc Ford…” lão nói.
“Đương nhiên sẽ được mua lại”.
“Bốn ngàn mác”.
“Ông đã mua nó với cái giá ấy hay sao?” tôi vui vẻ hỏi.
“Nó phải được mua lại với giá bốn ngàn”, lão thợ bánh tuyên bố
dứt khoát. Giờ đây lão đã tìm được điểm phản công sau khi bị đánh
phủ đầu. “Chiếc xe quả tốt như mới…”
“Mới…” tôi nói, “sau cuộc đại tu…”
“Sáng nay chính anh đã thừa nhận như vậy…”
“Sáng nay khác. Nguyên trong từ ‘mới’ đã chứa cả một sự khác
biệt, tùy theo người ta mua hay rao bán. Để được bốn ngàn mác, dễ
thường chiếc Ford của ông có bộ bađờsốc bằng vàng!”
“Bốn ngàn mác, không thì thôi”, lão thợ bánh bướng bỉnh nói.
Giờ đây lão đã hoàn toàn trở lại là con người cũ, và hình như muốn
sửa chữa mọi sự mềm yếu ban này.
“Vậy thì xin chào!” tôi nói và quay sang ả tóc đen. “Tôi lấy làm
tiếc, thưa quý bà… nhưng tôi không thể cứ làm ăn thua lỗ. Chúng
tôi đã chẳng ăn lời xu nào với chiếc Cadillac thì chớ… làm sao
chúng tôi còn có thể cõng thêm chiếc Ford cũ rích với một giá cắt cổ.
Xin tạm biệt bà..”
Ả níu tôi lại. Mặt ả sáng lóe, và bây giờ ả nói té tát lão thợ bánh
khiến lão ù tai hoa mắt. “Chính ông từng kêu tới hàng trăm lần rằng
chiếc Ford chẳng còn giá trị quái gì cả”, cuối cùng ả rít lên, mắt đẫm
lệ.
“Hai ngàn mác”, tôi nói, “hai ngàn, cho dù chấp nhận cái giá ấy
cũng đã quá bằng tự sát”.