“Tàu đến kia rồi”, tôi nói.
Đầu máy ì ạch chạy tới, đen chũi, nhỏ thó và lạc lõng trước
không gian mênh mông, lung linh nắng. Chúng tôi lên tàu. Tàu
vắng khách. Nó phì phò khởi hành. Khói phả ra từ dầu máy đọng
lại dầy đặc, đen kịt trên nền trời. Phong cảnh lần lượt diễu qua: làng
mạc với những mái nhà tranh nâu xỉn, những đồng cỏ đầy bò ngựa,
cánh rừng, và rồi, yên ả và say ngủ trong cái thung lũng nằm sau
những đụn cát là ngôi nhà của bà Muller.
Pat đứng cạnh tôi bên cửa sổ tàu nhìn ra. Con đường cua gần lại,
có thể nhìn rõ cửa sổ phòng chúng tôi. Cửa mở toang, tấm nệm
trắng được phơi một nửa ra nắng.
“Bà Muller kìa”, Pat nói.
“Ừ nhỉ”.
Ba đứng trước cửa nhà vẫy vẫy. Pat rút khăn tay của nàng ra, giơ
nó bay phần phật trước cửa tàu.
“Bà ấy chẳng thấy được đâu”, tôi nói, “khăn nhỏ và mỏng quá.
Đây, lấy khăn anh này”.
Nàng cầm lấy, vẫy. Ba Muller vẫy lại rối rít.
Con tàu dần dần ra giữa cánh đồng thoáng đãng. Ngôi nhà chìm
đi, các đụn cát cũng biến mất. Phía sau cái vạch đen của rừng, hồi
lâu nữa, thỉnh thoảng biển vẫn lóng lánh hiện ra. Lóng lánh như
một con mắt uể oải, rình mò. Rồi cái màu xanh lá mạ dìu dịu của
đồng ruộng, rồi sóng lúa trải tận chân trời, gợn lên trong gió nhẹ.
Pat đưa lại khăn tay cho tôi và ngồi vào một góc. Tôi kéo cửa sổ
lên. Thế là qua! Tôi nghĩ, ơn Chúa, qua rồi! Chẳng là gì ngoài một
giấc mộng! Cơn ác mộng đáng nguyền rủa!
Chúng tôi về tới thành phố trước sáu giờ. Tôi gọi một chiếc tắcxi,
chất va-li lên. Đoạn chúng tôi về nhà Pat.
“Anh cùng lên chứ?”, nàng hỏi.