BÃO ĐỒNG - Trang 292

chiều đi Bắc Cạn về, ông nói với tôi là chụp lại đẹp lắm ấy, đâu rồi?". Tôi
lại cuộn lại để trong rương cẩn thận cho nó mới, ông chồng thật thà nói với
bà vợ. Bà Thàng ngồi xuống cạnh ông, đưa tay dúi thêm cây củi vào bếp,
củi khô bắt lửa cháy phừng phừng. Nhìn ngọn lửa cháy như cười reo, bà
bảo: "Sáng nay ông không đi nương nữa, ở nhà tìm xem còn cái khung kính
nào thì bỏ cái hình của anh đồng ngũ với ông người dưới xuôi vào, rồi lập
chỗ thờ anh ấy, ông ạ. Không anh em máu mủ ruột rà, nhưng người ta đối
với mình còn hơn cả anh em ruột thịt. Ngày ông ở bộ đội về, ông đã chả nói
với mẹ con tôi là ông còn sống về được đến nhà, là nhờ có ân nhân cứu
mạng là gì!". Nghe bà vợ nói, ông Thàng bất giác quay lại như muốn ôm
chầm lấy vợ, có thế mà cả đêm tôi không nghĩ ra. Một lần nữa ông như
thầm cảm ơn bà vợ đảm đang, hiền thục, lúc nào cũng như thấu hiểu bụng
dạ chồng. Hôm sau ông nghỉ hẳn một buổi ở nhà, tháo cái giấy khen cũ ra
khỏi tấm kính có khung gỗ sơn viền màu hoa đào, rồi để tấm ảnh Bao
phóng to bằng tờ giấy kẻ học sinh vào đó. Nơi đặt chỗ thờ Bao ngay gần
ban thờ gia tiên nhà ông, cũng một bát hương, một lọ lộc bình do chính
Thàng ra ngoài Cửa hàng Xã mua về. Tấm ảnh lồng trong khung kính được
đặt trên một miếng gỗ cho cao hẳn lên sau bát hương. Tết nhất, tuần rằm,
mồng một, ban thờ có thứ gì cúng gia tiên thì trên chỗ thờ Bao cũng có thứ
đó. Mỗi khi có người lạ đến nhà, nhìn ban thờ gia tiên thấy duy nhất một
chỗ thờ lại có tấm ảnh phóng to, hỏi thì Thàng chỉ nói, đấy là người anh em
kết nghĩa của tôi.

Nhưng sáng ấy, cả ba người khách dưới xuôi từ giường ngủ đi ra, thì

không biết do thần linh sai khiến hay giác quan thứ sáu mách bảo, ông
Thàng gọi giật cả ba người lại chỗ ban thờ đang nghi ngút khói hương và lờ
mờ ngọn đèn dầu nhỏ như hạt đỗ, chỉ vào bức ảnh người đàn ông vận áo sơ
mi trắng, khẩn khoản hỏi:

- Ba người có biết người trong ảnh kia quê ở đâu không?