mỗi đứa một bộ quần áo mới. Thế là cứ con chị thải ra thì con em dùng.
Tuy nhiên, cũng cần phải sửa sang lại cho nó vừa vặn. Với lại khi quần áo
bị rách có cái máy khâu miếng vá nó cũng đẹp hơn. Thật là một mơ ước hết
sức giản dị và thiết thực. Vì vậy, gần cuối khóa học ông bảo mấy anh em
học viên đào tạo đi mua giúp cái máy khâu. Thấy ông đưa ra 60 rúp họ
cười: “Thế này thì chỉ có mua hàng “còm”!”. Ông ngơ ngác: “Sao lại hàng
còm. Còm là cái gì?”. Đến lúc nghe bọn họ giải thích ông mới biết “còm” là
cách anh em mình nói tắt để chỉ cửa hàng đồ cũ “com- mi- xi- on- nưi”. Đó
là nơi mà các lưu học sinh Việt Nam hay đến để mua hàng. Chả thế mà
trong hội lưu học sinh Việt Nam hồi đó có câu ca: “Ăn nhanh, đi chậm, hay
cười. Hay mua đồ cũ là người Việt Nam”. Kể cũng xót xa thật nhưng biết
làm sao. Đất nước còn nghèo, lại đang có chiến tranh. Được đi học nước
ngoài, ở chỗ an toàn rồi, lại có tiền mua hàng về thì dẫu có là đồ cũ cũng
còn hơn chán vạn đồ bên nhà mình, còn kêu ca gì nữa. Thế là ông gật:
“Còm cũng được. Miễn là có cái máy khâu cho bà ấy đạp”. Cũng phải đến
hai chủ nhật đi lùng sục họ mới khuân về được cho ông một cái máy khâu
cũ của Tiệp Khắc. Nhìn chiếc máy khâu sơn màu sữa còn khá mới, có đủ
chân máy, phụ tùng và động cơ điện ông thấy vui lắm. Ít nhất lần này ông
đã làm cho bà được toại nguyện.
Kiệm cũng đã lôi đồ đoàn của mình ra sắp trên giường. So với phó tư lệnh
Đào thì đồ của Kiệm có vẻ lỉnh kỉnh hơn. Một phần là vì anh mua chiếc xe
đạp “cuốc” và mấy cái quạt tai voi nên nó khá cồng kềnh. Một phần cũng vì
cái tính dễ dãi nên mấy anh em học viên đào tạo nhờ chuyển giùm ít quà về
cho gia đình. Kiệm nhận tất nhưng nhắc đùa: “Các cậu gửi cái gì không ăn
được ấy!”.
Từ phía đầu tàu một hồi còi dài vọng lại. Thêm một hồi còi nữa. Con tàu
giảm dần tốc độ. Đã thấy những bóng đèn vàng vọt phía ngoài cửa sổ. Bên
ngoài hành lang toa tàu đã xuất hiện những bước chân bước vội và tiếng líu
ríu gọi nhau.