được coi là của anh trai mình nhằm giúp nó được xuất bản. Các vị biết đấy,
một tu sĩ Jesuit như William không được chấp nhận ở nước Anh. Nhưng
chắc chắn William là người dễ tiếp cận hơn tới cuốn Don Quixote. Và cũng
là người biết tiếng Tây Ban Nha”.
“Anh ta có mối quan hệ nào với gia đình Howard không?” Ben hỏi.
“Bá tước Northampton giúp anh ta tới đây và đứng ra bảo lãnh cho anh ta.
Điều này rất cần thiết vào thời đó, khi có rất nhiều gián điệp rình mò”.
“Một người của nhà Howard giúp anh ta vào đây?”
“Điều đó quan trọng lắm sao?”
“Có thể. Anh ta có để lại một lá thư hay giấy tờ nào khác không?”
Đức cha Armstrong lắc đầu. “Tôi e là họ tự giữ những lá thư của mình.
Chúng tôi không có giấy tờ nào loại đó cả”. Ông nhìn tôi với đôi mắt sắc
như dao. “Hãy tin chúng tôi. Nếu chúng tôi có bút tích của Shakespeare, tôi
nghĩ là chúng tôi phải biết”.
“Nếu bút tích đó rõ ràng từ anh ta” tôi đáp trả. “Tất nhiên những người trao
đổi thư tín với các ngài sử dụng các bí danh, cũng giống như các tu sĩ của
các ngài vậy. Shelton đã đi đâu?”
“Anh ta được phép bỏ lời thề với dòng Jesuit để gia nhập dòng Franciscan.
Và tới năm 1626, anh ta được cử tới Tân Tây Ban Nha - tới Santa Fe - cùng
thầy Alonso de Benavides. Anh ta mất tích và được coi là đã tử vì đạo dưới
tay những người Indian trong một chuyến đi vào khu vực hoang vu phía tây
nam Santa Fe”.
Dạ dày tôi hơi thắt lại.
“Tuy vậy chúng tôi có một cuốn sách đã từng thuộc về cha Shelton” cha
hiệu trưởng nói. “Không mấy người biết về nó, nhưng tôi nghĩ có lẽ các vị
nên xem qua”. Bước tới góc xa của thư viện, ông lấy ra một cuốn sách dày
bọc bìa da đỏ, mở ra và đưa cho tôi.
“Hài kịch, kịch lịch sử và bi kịch của William Shakespeare” tôi đọc. “Được
xuất bản theo những bản sao lại từ đúng bản thảo gốc”. Dưới dòng chữ này
là bức tranh khắc với chiếc đầu hình quả trứng của Shakespeare nổi bồng
bềnh trên cổ áo xếp. Tôi đang cầm một cuốn Tuyển tập Đầu tiên.
“Kiệt tác thời Jacobean” Ben nói và huýt sáo khe khẽ.