C. MÁC VÀ PH. ĂNGGHEN TOÀN TẬP - TẬP 1 - Trang 228

Báo cáo viên chính thức: "Tuy vậy, nếu như không thể không thừa nhận rằng tình cảnh vùng Mô-den đã

xấu đi rất nhiều so với thời kỳ trước khi tổ chức liên minh thuế quan ra đời, và thậm chí có thể lo ngại một

phần về tình cảnh bần cùng hóa thực sự của vùng này, thì cần tìm nguyên nhân của tình hình này hoàn toàn

trong những thu nhập quá cao trước kia.”

“Nhờ vị trí hầu như độc quyền trong lĩnh vực bán rượu vang mà vùng Mô-den đã chiếm trong những năm

trước đây, nhờ liên tiếp được mùa nho trong những năm 1822, 1825, 1826, 1827, 1828, - trong vùng này đã

phát triển một sự xa hoa chưa từng có. Những món tiền lớn tích lũy lại trong tay người trồng nho đã thúc đẩy

y tăng cường việc mua vườn nho với những giá cả chưa từng thấy, kích thích họ bỏ ra những chi phí quá

mức cho việc mở mang những vườn nho mới tại những vùng không thuận lợi cho việc trồng nho. Người nào

muốn trở thành kẻ sở hữu thì ngày càng chồng chất những món nợ mà trước kia họ có thể dễ dàng trang trải

bằng thu nhập của một năm được mùa, còn bây giờ, khi tình hình không thuận lợi thì những khoản nợ ấy ắt

phải bóp chết những người trồng nho bị rơi vào tay bọn cho vay nặng lãi".

"Một trong những hậu quả toát ra từ tình hình đó là việc trồng nho chỉ giới hạn trong những khoảnh đất

tốt nhất và cũng như trước kia, phần lớn lại chuyển vào tay những người chủ đất giàu có. Những người này,

do những khoản chi phí sơ bộ rất lớn gắn với công việc trồng nho, cũng có khả năng hơn cả trong việc tiến

hành kinh doanh và có thể dễ dàng chịu đựng những năm mất mùa: cả trong những năm này, họ cũng vẫn có

đủ phương tiện để cải tiến canh tác và thu được sản phẩm có khả năng chịu được sự cạnh tranh hiện nay của

các nước đã mở ra cho chúng ta trong Liên minh thuế quan. Nhưng, tất nhiên, trong những năm đầu, tất cả

những điều đó không thể diễn ra mà lại không gây ra những tai họa lớn đối với tầng lớp trồng nho nghèo

hơn, những người này, trong thời kỳ thuận lợi hơn trước đây, phần đông cũng đã là những người sở hữu các

vườn nho. Tuy nhiên, với tất cả những đĩều đó, cũng cần chú ý rằng tình trạng trong mấy năm trước đây là

không tự nhiên và những kẻ thiếu cân nhắc bây giờ phải chịu đựng hậu quả ấy. Nhà nước... sẽ chỉ phải giới

hạn trong việc dùng những biện pháp thích hợp để giờ đây, trên mức độ có thể, làm giảm bớt cho dân chúng

những khó khăn của bước chuyển ấy".

Lời phản đối của ban quản trị Hội: "Thực ra, người nào đến bây giờ mới quan tâm đến tình cảnh bần

cùng hóa của vùng Mô-den, thì người đó còn chưa thấy sự nghèo khổ kinh khủng đã bắt rễ sâu và ngày càng

tăng trong đám dân chúng lành mạnh về mặt đạo đức và lao động không mệt mỏi của vùng này. Xin đừng

nói với chúng tôi như vị giám đốc Sở địa chính, rằng kẻ có lỗi gây ra tình hình đó là bản thân những người

đã bị bần cùng: không, tai họa đó nhiều hay ít đều đụng đến tất cả những người trồng nho, bất kể là người

biết lo xa hoặc không biết lo xa, người chăm làm hoặc không chăm làm, người khá giả hoặc túng thiếu: và

nếu như tình hình đi đến chỗ là ngay cả những người trồng nho khá giả, chăm làm và căn cơ, cũng buộc phải

tuyên bố rằng họ không còn đủ sức để nuôi mình nữa, thì rõ ràng là không nên tìm kiếm nguyên nhân ở

trong bọn họ".