Mỗi người trước hết sẽ phải thừa nhận rằng, chính phủ đã không thể có được
một lập trường rõ ràng, do đó buộc phải nghiêng ngả giữa quan điểm của báo cáo
viên của mình và quan điểm ngược lại của những người trồng nho. Sau nữa, nếu
chúng ta chú ý rằng báo cáo của ngài Phôn Txúc-can-ma-li-ô đề ngày "12 tháng
Chạp 1839", còn bản phúc đáp của Hội đề ngày "15 tháng Bảy 1840”, thì chúng
ta thấy rõ ràng là, cho tới lúc đó, quan điểm của báo cáo viên, nếu không phải là
duy nhất thì cũng vẫn là thống trị trong cơ quan của chính phủ. ít ra thì ngay
trong năm 1839, quan điểm này cũng đối lập với thư báo cáo của Hội với tư cách
là kết luận của chính phủ, do đó, là một loại tổng kết quan điểm của chính phủ,
bởi vì, ý kiến cuối cùng của một chính phủ nhất quán phải được coi như là một
tổng số nào đó của những quan điểm trước đây của nó và toàn bộ kinh nghiệm
của nó. Còn trong báo cáo thì không những không thừa nhận rằng tình cảnh
nghèo khổ là phổ biến, mà thậm chí còn không đề ra được biện pháp nào đối phó
với hiện tượng nghèo khốn mà bản báo cáo thừa nhận, - bởi vì trong báo cáo có
nói: "Nhà nước sẽ chỉ phải giới hạn trong việc dùng những biện pháp thích hợp
để giờ đây, trên mức độ có thể, làm giảm bớt cho dân chúng những khó khăn của
bước chuyển ấy". Song trong những điều kiện đó, cần hiểu bước chuyển là sự diệt
vong
1*
dần dần. Sự diệt vong của những người trồng nho nghèo khổ hơn được
coi như một loại hiện tượng tự nhiên mà đứng trước nó con người đành chịu
khuất phục, và chỉ còn biết cố gắng làm giảm nhẹ những hậu quả tất nhiên của nó
mà thôi. Báo cáo còn nói: "Tất nhiên tất cả những điều đó không thể diễn ra mà
không gây ra những tai họa lớn". Vì thế, Hội đặt câu hỏi: phải chăng người trồng
nho vùng Mô-den không đáng để cho người ta thực hiện, dù chỉ là "một mưu toan
nào đó" nhằm cứu vãn họ? Nếu quả chính phủ đứng trên quan điểm trực tiếp đối
lập thì ngay từ đầu chính phủ đã sửa đổi bản báo cáo, biểu thị một quan điểm
hoàn toàn rõ ràng về một vấn đề quan trọng như nhiệm vụ và chính sách của nhà
nước trong sự việc này. Do đó, thấy rõ rằng có thể thừa nhận tình cảnh khốn khổ
của những người trồng nho và đồng thời không hề đặt ra cho mình mục đích
giảm nhẹ tình hình ấy bằng một cách nào đó.
Chúng tôi xin dẫn thêm một thí dụ nữa về bản thông báo do các nhà chức
trách đưa ra về tình hình ở vùng Mô-den. Vào năm 1838, một đại diện cao cấp
của chính quyền đã đi kinh lý vùng Mô-den. Trong cuộc hội thảo với hai vị ủy
viên hội đồng tỉnh ở Pi-xpoóc, ông ta đã hỏi một trong hai người về tình hình tài
sản của những người trồng nho và đã được trả lời: