quỷ. Les trois livres de l’Art, Destructor omnium rerum, Disertazioni sopra
le apparizioni de’spiriti e divavoli, De origine, moribus et rebus gestis
Satanae…
“Ông nghĩ sao?” Fargas hỏi.
“Không tồi.”
Người sưu tầm sách cười mệt mỏi. Lão quỳ xuống cạnh Corso và máy
móc sửa lại những cuốn sách để đảm bảo rằng không cuốn nào xê dịch dù
chỉ một li so với lần gần đây nhất lão kiểm tra.
“Không tồi chút nào. Ông nói đúng. Ít nhất có mười cuốn cực hiếm. Tôi
kế thừa toàn bộ chỗ này từ ông nội tôi. Ông là người say mê thuật giả kim
và chiêm tinh học, hội viên Hội Tam điểm. Nhìn xem. Đây là một tác phẩm
kinh điển, Infernal Dictionary của Collin de Plancy, ấn phẩm xuất bản lần
đầu năm 1842. Và đây là cuốn Compendi dei secreti in năm 1571 của
Leonardo Fioravanti… Cuốn sách khổ mười hai kia là Book of Wonders
xuất bản lần thứ hai.” Lão mở một cuốn khác và chìa cho Corso thấy một
bức minh họa. “Nhìn Isis
này… Ông biết đây là cái gì chứ?”
“Tất nhiên. Oedipus Aegiptiacus của Atanasius Kircher.”
“Chính xác. Xuất bản ở Rome năm 1652.” Fargas trả cuốn sách về chỗ
rồi nhấc ra một cuốn khác. Corso nhận ra bìa sách đóng kiểu Venice: bọc da
đen, năm dải băng nổi và một biểu tượng ngôi sao, song trên bìa không có
đầu đề. “Đây là thứ ông tìm, De Umbrarum Regni Novem Portis. Chín
cánh cửa của vương quốc bóng tối.”
Corso run lên dù không muốn vậy. Nhìn bề ngoài, ít nhất cuốn sách
cũng giống hệt cuốn trong túi gã. Fargas đưa gã cuốn sách và Corso đứng
lên lật lật qua. Chúng giống hệt nhau, hay hầu như thế. Lớp da bọc bìa sau
cuốn của Fargas hơi bị mòn, có vết cũ của một tấm nhãn từng được gắn vào
rồi gỡ ra. Phần còn lại không khác chút nào với cuốn của Borja, ngay cả
bức tranh số VIIII cũng còn nguyên vẹn.
“Thật hoàn hảo, tình trạng rất tốt,” Fargas nói, diễn đạt chính xác vẻ mặt
Corso. “Nó ngao du ngoài đời suốt ba thế kỷ rưỡi, nhưng khi ông giở ra thì