CHÂN LẠP PHONG THỔ KÝ - Trang 114

[44]

Bản dịch của LH, “Những cây đà ngang và cột thật lớn đều có chạm

hình Đức Phật và sơn màu. Nóc cung thật là hùng tráng.”

[45]

Bản dịch của LH, “Tại đây, nơi nhà Vua thiết triều có một cửa sổ

bằng vàng.

[46]

Trong nguyên bản là Tây Dương, chỉ Ấn Độ ngày nay, ND.

[47]

Bản dịch của LH, “vải thêu dính liền nhau”.

[48]

Câu sau cùng này trong bản dịch của LH ghi, “Quan chức nào được

che lọng vàng gọi là ba đinh (pa-tinh) hoặc ám đinh (ngan-ting), quan nào
được che lọng bạc gọi là tê-lạc-đich (sseu-la-ti).

[49]

Chu Đạt Quan đã giải thích các truyền thống địa phương tương ứng

với các thuật ngữ và phong tục Trung Hoa của chính ông, JM.

[50]

Taoists, JM dùng chữ Taoists ở đây dễ gây ngộ nhận là người của

Đạo Giáo Trung Hoa, trong khi thực sự đó là các tín đồ của Bà La-Môn-
Giáo, ND.

[51]

Pan-ch’i, có phần để chỉ pandit [trí thức thời đó], hay các Brahmans

(thuộc giới tăng lữ của Bà La Môn giáo); Ch’ou-ku [theo LH, tiếng Thái
Lan], chỉ các nhà sư Phật Giáo, và pa-ssu-wei, “Các Đạo Sĩ” trong tiếng
Căm Bốt, có thể, theo ý kiến của Pelliot, là các tín đồ của một giáo phái đặc
biệt thờ vị thần Ấn Độ, Siva, chua của JM.

[52]

Theo LH, “người Miên dùng mũi kim viết trên lá gồi, đoạn thoa lọ

nồi hoặc lọ chảo lên, màu đen dính vào nét chữ lộ hẳn ra”.

[53]

Theo LH, “đó là vị Sãi Cả, coi sóc Giáo Pháo trong toàn quốc gọi là

Vua Sãi, hiện vẫn còn chức vụ ấy.”

[54]

LH dịch là các tin đồ Bà La-Môn-Giáo, không phải các giáo sĩ, ND.

[55]

Một sắc dân Hồi, ND.

[56]

Pelliot tin rằng đây là một linga, JM.

[57]

Bản dịch của LH, “Đối với họ tôi cũng không biết họ tu theo nguồn

gốc nào”.

[58]

Mán?

[59]

Bản của LH dịch âm là “Trần-gia-lan (tch’en-kia-lan)”.