Trung Hoa từ thời cổ thường được đặt tên theo các hành tinh như Kim Mộc
Thủy Hỏa Thổ… Vì thế khó có thể dịch như JM đã làm rằng “ngày thứ hai
thì bắt trắc v.v”… bởi khái niệm ngày theo số đếm của tây phương này chắc
chắn không phải là điều mà tác giả Chu Đạt Quan đã nghĩ tới khi viết ra
đoạn này, chú của ND.
Bản dịch của JM không có câu tiếp nối sau này, như đã được dịch và
chú thích bởi Lê Hương: “Mười hai con thú của chu kỳ cũng giống như
mười hai con thú của Trung Hoa nhưng tên gọi khác nhau. Con ngựa gọi là
“Bốc-trại” (pou-sai), con gà gọi là “loan” (man), con heo gọi là “trực-lư”
(tche-tou), con bò gọi là “cá” (Ko), v.v…” (Chú thích của Lê Hương: “12
con thú của chu kỳ Cao Miên giống như lối gọi của người Trung Hoa và
Việt Nam, chỉ khác tuổi Sửu là con Bò, tuổi Mẹo là con Thỏ”, và “Tác giả
[Chu Đạt Quan] phiên âm gần đúng theo tiếng Miên, chúng tôi dịch theo
chữ Nho sai bét: Ngựa: sèk, gà: mon, heo: chruk, bò: kô.”).
Bản dịch của LH ghi: … “hoặc lắt mũi.”.
Theo chú thích của LH, “Tục lệ này có từ triều đại Phù Nam (1-627),
nhưng thuở ấy, người Phù Nam nấu nước sôi.
Bản dịch của LH: “Đó là phương pháp kỳ diệu của giống dân này.”
Theo chú thích của LH, “Mười hai ngôi tháp đá đến ngày nay vẫn
còn trước Sân voi gọi là Khléang, chia làm 2 khóm, 6 ngôi ở hướng Bắc và
6 ngôi ở hướng Nam.”
Bản dịch của LH: “Họ gọi là “nhà ngục của Trời”. Đây là vị Thần
của non sông linh ứng mới có như vậy.”
Bản dịch của LH ghi: “Người dân xứ này thường mắc nhiều bịnh nhẹ
mà họ trị rất dễ dàng bằng lối lặn dưới nước và gội đầu liên tiếp.”
Bản dịch của LH, “…dân bổn xứ cũng không phản đối”.
Bản dịch của LH: “Có người nói đó là một chứng bệnnh phát khởi do
tình trạng thời tiết trong xứ”.
Bản dịch của LH, …”vì thế dân chúng không xem là chứng bệnh
đáng ghê sợ”.