khó không?" - "Khó". - "Sao khó?"- "Vì căng lắm". - "Sao căng?" Tôi trố
mắt nhìn anh này. Hỏi ngu thế. Nịt vú không căng thì ai người ta thuê cài
một ngày năm xu.
Nhiều anh còn vỗ vai tôi xuýt xoa: "Thằng này vinh dự nhất làng
Đông". Bây giờ nghĩ lại mới buồn cười, chứ khi đó tôi tức lắm. Mẹ kiếp,
làm bở hơi tai mới kiếm được một ngày năm xu, vinh dự cái gì!
Tôi lên tám tuổi, chị tôi cưới chồng, tôi mất sạch mọi nguồn thu nhập, kể
cả năm xu còm chị tôi giả mỗi ngày cũng không có. Bù lại, tôi có ông anh
rể oách nhất làng Đông: Bộ đội Điện Biên Phủ trở về, quân hàm hai sao
một gạch và tất nhiên có cả súng ngắn. Súng ngắn thật hẳn hoi chứ không
phải vỏ bao súng ngắn nhét đầy giẻ rách như một vài anh ở dưới Huyện đội
vẫn thường lên đây tán tỉnh chị tôi.
Từ ngày có anh rể mặc áo bốn túi, tôi không theo lũ trẻ trong làng hát
vang lên bài: "Râu thì râu bốn bâu (túi) em cũng lấy". Đứa nào dám chõ
mồm hát ghẹo chị tôi bài đó, tôi đánh cho chảy máu mũi mới thôi.
Anh rể tôi cao to mặt trắng hồng và không hề có một sợi râu. Vả lại chị
tôi yêu anh năm mười sáu tuổi, đợi chờ khốn khổ những chín năm, may anh
trở về trọn vẹn lại có súng ngắn, có áo bốn túi, có quân hàm nhiều sao nhất
làng Đông; chứ nếu có què tay cụt chân, chị tôi cũng không bỏ.
Mỗi bận dắt trâu ra đồng, lũ trẻ làng Đông lại vây quanh tôi, há hốc mồm
nghe tôi kể chuyện anh tôi chiến đấu ở Điện Biên Phủ.
- Anh tao xông lên, hai tay hai khẩu súng lục. Đoàng! Thằng gác cửa
hầm tướng Đờ-Cát ngã gục! Bốn thằng nhào tới! Đoàng! Đoàng! Đoàng!
Đoàng! Bốn thằng chết mất ngáp nhé! Xong rồi, anh tao lao vào hầm.
Thằng Đờ-Cát đang alô xin cứu viện. Anh tao giật tung cái alô trong tay nó
ném xuống đất...