- Cái alô có điện đó. - Một thằng cắt ngang. - Anh mày không sợ điện
giật à?
- Sợ gì mà sợ! Thằng Đờ-Cát còn sợ anh tao té đái nữa là điện. Mà
chúng mày cứ cắt ngang là tao không kể nữa đâu. - Tôi vênh mặt lên.
- Thôi! Kể đi? Kể đi! - Lũ trẻ nhao nhao - Đứa nào còn chen ngang, tụi
tao đánh vỡ mỏ!
Tôi chắp tay sau đít đi lại trước mặt lũ trẻ, dáng điệu của thầy giáo chuẩn
bị ra câu hỏi cho học trò.
- Tao kể đến đoạn nào rồi?
- Đến đoạn anh mày giật tung cái alô.
- Rồi. Thằng Đờ-Cát thấy anh tao, nó chắp tay lại lắp bắp một câu tiếng
Pháp. Anh tao chơi một tràng mười câu tiếng Pháp luôn. Xong rồi, anh tao
xách cổ nó lên, chỉ xách bằng một ngón tay thôi nhé! Xong rồi, anh tao đem
nó ra khỏi hầm giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Tất nhiên anh rể tôi không kể với tôi như vậy. Nói chung anh không kể
cho tôi nghe một chuyện chiến đấu nào cả. Khác với anh cu Cải xóm Đa,
vừa về làng, vừa đặt ba lô xuống là vung tay múa chân kể chuyện chiến đấu
cho cả làng nghe. Toàn những chuyện long trời lở đấu. Bao giờ anh cu Cải
cũng ở trong một tình thế suýt chết nhưng nhờ có mưu mẹo anh đã vượt
qua, tóm lại là không chết nữa. Sau này cả làng mới biết anh là lính hậu
cần, được hai giấy khen cấp trung đoàn về thành tích nấu cơm không có
khói, thế thôi.
Anh rể tôi rất ít nói, chỉ hay cười tủm tỉm. Quân hàm đến hai sao một
gạch mà nói chuyện với ai cũng một mực vâng dạ y như lính công vụ, nhiều
khi làm tôi chán quá. Sau nhiều ngày chờ đợi suốt ruột, một lần đang ăn
cơm, tôi nói :