Thằng cu Đán ăn trộm gà nhà tôi, bị bố nó nọc cổ ra đánh, hay tin bà còn
tất tả chạy đến xin tha cho nó, lại còn luộc gà, lén cho nó hẳn một cái đùi.
Ối mẹ ơi phải đến nông nỗi này mẹ mới hóa dại...
- Ngày mai… có bao nhiêu lúa... bán hết... mua cho tao cái đài. - Mẹ tôi
hắt ra từng tiếng một.
Chị tôi cúi đầu bóp chân cho bà, không đáp.
- Mày có nghe không, Na?
- Vâng.
Sau tiếng "vâng" nhẫn nhục là nước mắt chan hòa. Chị ngồi lặng lẽ khóc.
Không nghe chị nấc lên hay thút thít. Suốt đêm chị ngồi bóp chân cho mẹ,
mặc cho nước mắt đầm đìa, thấm ướt bầu ngực đầy của chị.
Đó là đêm cuối cùng tôi nhìn thấy chị khóc. Sáng hôm sau, mặt chị đanh
lại, pha một chút bất cần. Chí khéo léo tránh xa mọi cuộc tiếp xúc. Không
sinh hoạt thanh niên, không tham gia văn nghệ, ngay cả việc họp đội sản
xuất chị cũng đùn cho tôi. Chỉ hai nơi chị luôn có mặt, ấy là trong nhà và
ngoài đồng, rất ít khi thấy chị tha thẩn trong làng.
Chị làm việc quần quật suốt đêm ngày, ai bảo gì cũng làm, ai nhờ gì
cũng giúp. Cho đến gà gáy canh một vẫn nghe chị tra tấn hòn đá bằng
những cú đập lúa nghe đến sởn óc. Vậy mà chị không ốm, không bao giờ.
Trước đây chị vẫn thường hay kêu ca mỏi lưng đau gối nhức đầu chóng
mặt. Bây giờ thì không. Chị như con thiêu thân lao vào đống lửa thời gian.
Nhưng chị không chết, không cách gì chết được. Ngày mỗi ngày chị càng
rắn lại, càng đanh hơn, vẻ bất cần đã tràn ngập gương mặt chị.
Hằng đêm cứ đến chừng canh ba chị lại mở vali lấy ra cái hộp đuya-ra
nhỏ bằng hộp diêm, phía trong có gắn một tấm gương. Không có gì cả trong
hộp, ngoài mảnh giấy có nét chữ của anh tôi: "Dù ai nói ngả nói nghiêng,