lên rằng, bây giờ không cách gì khác hơn là cố gắng sống và chờ đợi.
Chị đã nghe lời họ, nhẫn nại sống qua từng ngày, ròng rã mười bảy năm
trời như thế. Mẹ tôi không như chị. Sau lần đi gây sự với hàng xóm, bà ốm
liệt giường. Một thứ ốm rất khó chịu, không bớt đi cũng không nặng lên,
quê tôi gọi là ốm dở.
Suốt ngày đêm bà ôm khư khư cái đài phục đến giờ đài địch phát thì mở.
Năm ba lần chúng nhắc tên anh, kể chuyện "Thăng tiến" của anh, bà chỉ
nhếch mép "Hực" một tiếng khô khốc, không ra cười cũng chẳng ra khóc.
Thỉnh thoảng có người làng chạy đến hớt hơ hớt hải, mắt trước mắt sau, bảo
rằng hôm nay hôm nọ có nghe anh nói chuyện gì đó trên đài Sài Gòn, bà
cũng chỉ nhếch mép "Hực”. Ngay cả khi chính quyền xã đến nhà, thông báo
việc anh đào ngũ là có thật, tuy nhiên ai làm người đó chịu, chính quyền sẽ
không phân biệt đối xử với gia đình... mẹ tôi cũng nằm im, đợi chính quyền
ra về, bà lại nhếch mép "Hực!" Chừng nào chưa nghe chính anh nói trên đài
địch thì dù ai có nói bằng giời bà cũng không nghe.
Mẹ tôi đã sống qua năm năm bình yên với niềm tin không ai có thể lay
chuyển nổi, rằng đã có một nhầm lẫn hay bịa đặt nào đó, cho đến một đêm
định mệnh, đêm rằm tháng tám năm tôi mười bảy tuổi. Tôi nhớ vào khoảng
chín giờ đêm, đang nằm nghe đài mẹ tôi bỗng thét lên thất thanh:
- Thôi rồi Na ơi!
Từ ngoài sân chị tôi chạy ào vào, vội vã ghì chặt lấy cái đài. Đài "Gươm
thiêng ái quốc", sau một bản nhạc ngắn đã giới thiệu "Cuộc trao đổi thẳng
thắn và cởi mở giữa ngài đại sứ Bân-cơ và ngài Tô Xuân Quý, phụ tá tổng
thống". Một giọng trầm và ấm chậm rãi vang lên. Rõ ràng là tiếng của anh
tôi. Chị tôi đứng bật dậy, tựa hẳn vào vách, thở dốc.
Mặt mẹ tôi bỗng trắng bệch, bà lên cơn sốt đột xuất, toàn thân run lên
bần bật. Tôi không nhớ anh tôi và đại sứ Bân-cơ nói gì, chỉ nhớ đến đoạn