tay vô hình nào đó đã đẩy tôi ra khỏi hòn tên mũi đạn. Người ta điều tôi hết
An Toàn Khu này đến An Toàn Khu khác, mặc cho tôi ra sức xin xỏ, nì nèo
đến trương gân cổ lên cãi.
Cốt là để tránh cho mẹ tôi khỏi phải gục ngã trước khi tôi trở về, tôi
buộc phải lấy chiến công của đồng đội làm chiến công của mình trong các
bức thư gửi về cho bà. Chị tôi thư cho tôi, kể: "Mẹ phấn khởi lắm, nhờ
những chiến công của em, mẹ đã đỡ đi nhiều. Bây giờ mỗi bữa đã ăn được
già bát cơm, có khi được hai lưng bát".
Tôi vừa xấu hổ vừa sung sướng. Chị không kể bất cứ chuyện gì về chị
ngoài mấy chữ giao đãi đầu thư: "Chị vẫn khỏe". Chị đã nói dối. Có lần tôi
nhận được thư của mẹ tôi do người hàng xóm viết hộ, (Có lẽ mẹ tôi không
muốn cho chị biết những gì bà muốn kể cho tôi) bà kể tóc chị bây giờ bạc
trắng và chị đã xé câu ca dao anh gửi cho chị từ lâu.
Tôi hết sức ngạc nhiên, chị tôi đang ở tuổi bốn mươi cơ mà? Tôi lập tức
viết thư cho chị. Trong thư trả lời, chị xác nhận mẹ đã nói đúng. "Tuy nhiên
có một sợi tóc không chịu bạc, đã bao nhiêu năm rồi nó vẫn xanh, em thấy
có lạ không?"
Chị kể như đùa rằng quả thực chị đã xé câu ca dao của anh gửi cho chị.
Vài ngày sau chị tỉ mẩn dán lại. Vài ngày sau lại xé đi. "Và bây giờ chị
quyết định không xé nữa em ạ. Xé làm gì, tóc mình vẫn còn xanh kia mà,
cho dù là một sợi". Tôi hai mươi lăm tuổi, đủ khôn lớn để hiểu chị không ví
von về lòng chung thủy, chị muốn nói chị vẫn đang nghiến răng thờ phụng
cái từ "Hãy" mầu nhiệm của chị thôi.
Rốt cuộc tôi cũng được ra trận, đấy là trận cuối cùng của chiến tranh. Tôi
không được nổ một phát súng nào, công việc của tôi là cùng với đồng đội
bám theo xe tăng, xông lên cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập. Lần nữa số phận
tôi không cho tôi được như ý. Khi chúng tôi đến thì cờ Tổ quốc đã phấp