đông người đứng trước cái diễn đàn dựng bằng ván, nhiều người ngồi
trên các khung máy, trên những bậu cửa sổ cao.
Đasa chen lên gần diễn đàn. Một anh thợ trẻ cao lớn quay lại nhìn
nàng và nhoẻn rộng miệng cười để lộ hàng răng trắng muốt trên gương
mặt đầy vết dầu máy, hất đầu chỉ cho nàng một cái bàn quay, chìa tay ra
cho nàng. Đasa đứng trên cái bàn quay, dưới một khung cửa sổ. Xung
quanh nàng lố nhố mấy nghìn cái đầu - những gương mặt lầm lì, những
cái trán cau lại, những đôi môi mím chặt. Ngày ngày trên các đường
phố, trên các toa xe điện, nàng vẫn thường trông thấy những gương mặt
này - những gương mặt Nga bình thường, mệt mỏi, với khóe nhìn kín
như bưng. Có lần -ấy là vào hồi trước chiến tranh - trong một chuyến đi
dạo ngày chủ nhật trên các khu đảo ở Pêterburg, hai viên trợ lý trạng sư
cùng đi với Đasa đã lấy chính những gương mặt này làm đề tài nói
chuyện. "Đarya Đmitrievna ạ, cô cứ thử xem dân chúng trên các phố
Pari chẳng hạn: họ vui vẻ, họ hiền lành, họ hớn hở... Còn ở ta thì người
nào cũng gườm gườm như lang sói. Xem hai người thợ kia kìa. Bây giờ
tôi thử đến nói đùa với họ một câu... Họ sẽ trạnh lòng, họ sẽ không
hiểu... Dân Nga ta kỳ cục, khó tính lắm..." Và giờ đây những con người
không ưa đùa cợt ấy đang đứng đông nghìn nghịt trong xưởng máy, với
những gương mặt lầm lì, xúc động, đăm chiêu và cương quyết. Cũng
vẫn là những gương mặt ấy, nhưng đã xỉn lại vì đói, cũng vẫn những
đôi mắt ấy, nhưng cái nhìn đã nóng lên, như có một cái gì thiêu đốt ở
bên trong.
Đasa quên bẳng mục đích của nàng khi đến đây. Những ấn tượng của
cuộc sống mà nàng đã lao vào từ cái khung cửa sổ hoang vắng trên phố
Kraxnyê Zori đã cuốn nàng đi như trận bão thổi bạt một cánh chim. Và
với một tấm lòng chân thành nguyên vẹn, nàng đã toàn tâm toàn ý
buông mình vào những ấn tượng mới mẻ ấy. Nàng tuyệt nhiên không
phải là một cô gái khờ khạo, nhưng cũng như nhiều cô gái khác, nàng
chỉ có thể dựa vào bản thân, dựa vào cái kinh nghiệm nhỏ bé của mình.