tầng hai. Cậu ôm chặt lấy một nhánh lớn, đu người lên thân cây, rồi nhanh
chóng tụt xuống đất như đã từng làm hàng trăm lần trước đây.
Nhảy lên chiếc xe đạp mười tốc độ của mình, cậu guồng chân đạp ra khỏi
garage và xuống Tudor Close. Cậu có thể nghe thấy tiếng những con chó
Alsatian bên nhà hàng xóm bắt đầu sủa, và điều đó chỉ làm cậu đạp nhanh
chân hơn mà thôi. Cậu lao xuống con dốc dài đường Harlyn cho đến khi
gặp đường Berrima. Tại ngôi nhà thứ hai bên phải, cậu dừng lại trước
cánh cổng điện cao bằng thép và nhìn quanh. Hàng rào bê tông có cắm
mảnh chai ở trên đầu, nhưng cậu vẫn tự hỏi không biết mình có thể trèo lên
nổi không, rồi bám lấy gờ và đẩy mình qua nhanh để khỏi bị cứa đứt. Cậu
vẫn đang hết hơi do chạy trốn. Một lính gác người Malaysia bước ra khỏi
buồng gác bên cạnh cánh cổng, ngạc nhiên khi thấy một cậu bé đứng đó
vào lúc hai giờ sáng.
“Cậu muốn gì vậy nhóc?”
Người lính gác đêm này không biết cậu. “Cháu cần phải gặp Colin. Chú có
thể báo với cậu ấy rằng Nicky đang ở đây được không?”
Người lính gác bối rối trong giây lát, nhưng rồi anh vẫn vào buồng gác và
nhấc điện thoại lên. Vài phút sau, Nick có thể nhìn thấy ánh điện sáng lên
trong nhà, và cánh cổng sắt bắt đầu trượt sang để mở cùng với một tiếng va
khe khẽ. Khi Nick bước theo lối đi về phía ngôi nhà, đèn hành lang bật
sáng và cánh cửa chính mở ra. Bà nội người Anh của Colin, bà Winifred
Khoo, người luôn khiến cậu nghĩ tới một phiên bản mập hơn của Margaret
Thatcher, đứng ở cửa ra vào mặc chiếc váy chần bằng lụa trái đào.
“Nicholas Young! Mọi chuyện không sao chứ?”
Cậu chạy ào tới chỗ bà và hổn hển thốt lên, “Bố mẹ cháu đánh nhau! Họ
muốn giết lẫn nhau, và mẹ cháu muốn đưa cháu đi xa!”