hoa chồng chất dưới hai bức chân dung Davis và Stephens cũng
làm nàng khó chịu.
“Nom như một cái bàn thờ ấy”, nàng khinh khỉnh nghĩ
thầm. “Họ cứ rộn lên về hai cái vị ấy, làm như là Đức Chúa Cha
và Đức Chúa Con không bằng!” Rồi đột nhiên thất kinh vì sự bất
kính của mình, nàng toan làm dấu thánh giá để xin xá tội,
nhưng nén lại kịp thời.
“Phải đúng thế”, nàng tranh cãi với lương tâm, “Tất cả đều
làm như họ là thánh, trong khi họ cũng chỉ là người, mà lại còn
rất xấu trai là đằng khác”.
Tất nhiên, ông Stephens thì dù muốn có mã người cũng
chẳng làm thế nào được vì ông vốn tàn tật suốt đời, nhưng còn
ông Davis…Nàng ngước nhìn khuôn mặt đầy tự hào, nét gọn
như đá chạm. Cái làm cho nàng khó chịu nhất là bộ râu dê lưa
thưa của ông. Đàn ông hoặc là phải cạo mặt thật nhẵn nhụi,
hoặc để ria, hoặc để râu cằm thật rậm.
“Xem chừng cái chòm lơ thơ vài sợi kia là cố gắng tột bậc của
ông ta”, nàng nghĩ, không nhìn ra trên gương mặt ấy sự thông
minh lạnh lùng, vững vàng đang gánh vác cả trọng lượng của
một quốc gia mới.
Không, lúc này nàng chẳng sung sướng gì, Vậy mà lúc đầu
nàng đã mặt hớn mày hở với niềm thích thú được hòa vào một
đám đông. Giờ đây, chỉ hiện diện đơn thuần là chưa đủ. Nàng có
mặt tại cuộc bán phúc thiện, song không thực sự tham dự vào
đó như một thành viên. Chẳng ai đoái hoài đến nàng và nàng là
cô gái không chồng duy nhất ở đây không có chàng trai nào
theo đuổi.
Vậy mà cho tới nay, bao giờ nàng cũng được dành vị trí trung
tâm sân khấu. Thật bất công! Nàng mới mười bảy tuổi và đôi
chân nàng khẽ giẫm trên sàn, muốn nhảy tâng tâng, muốn
khiêu vũ. Nàng mới mười bảy tuổi và nàng có một người chồng
nằm ở nghĩa trang Oakland với một đứa con thơ nằm nôi trong