thẳng nghiền ngẫm lại, chắt ra từng đốm sáng an ủi – những lúc
nhảy múa, hát, cười, tìm mọi cách làm vui cho Ashley, đón
trước những ý muốn của chàng, mỉm cười khi chàng mỉm cười,
im lặng khi chàng nói, không rời mắt khỏi chàng sao cho từng
đường nét của thân hình, từng cái nhướn mày, từng cái nhếch
mép đều in sâu không thể xóa nhòa trong tâm trí… bởi vì một
tuần thì qua rất nhanh, mà chiến tranh thì cứ liên miên, bất
tận.
Nàng ngồi trên đi văng trong phòng khách nhỏ, món tặng
vật tiễn đưa dành cho chàng đặt trong lòng, kiên nhẫn đợi
trong khi chàng tạm biệt Melanie, cầu trời sao cho chàng xuống
thang gác một mình để nàng được một mình với chàng vài
phút. Tai nàng căng ra nghe ngóng những tiếng ở trên gác,
nhưng ngôi nhà im ắng lạ lùng, im ắng đến nỗi ngay tiếng thở
của nàng dường như cũng vang to. Trong buồng riêng, bà cô
Pittypat đang úp mặt vào gối khóc, vì Ashley đã chào tạm biệt
bà từ nửa giờ trước. Không một tiếng thì thầm, không một tiếng
nức nở nào vẳng ra từ sau cánh cửa đóng của phòng ngủ
Melanie. Scarlett có cảm giác là chàng đã ở trong phòng đó hàng
mấy tiếng đồng hồ và nàng oán ghét mỗi giây phút chàng nán
lại từ biệt vợ vì thời khắc vùn vụt qua mà thì giờ của chàng lại
quá ngắn.
Nàng nghĩ đến tất cả những điều nàng đã định nói với chàng
trong tuần qua, nhưng không có cơ hội nào để nói ra. Và giờ đây,
nàng biết có lẽ mình chẳng bao giờ được dịp nói ra nữa.
Một số điều thật là vớ vẩn, đại loại như: “Ashley, anh phải
cẩn thận nhé!”, “Xin anh chớ có để ướt chân. Anh là chúa dễ cảm
lạnh”. “Đừng có quên lót một tờ báo dưới áo sơ mi để che ngực.
Nó chắn gió tốt lắm đấy…”. Nhưng có những điều khác quan
trọng hơn mà nàng muốn nói cũng như những điều còn quan
trọng hơn nhiều mà nàng muốn nghe chàng nói, những điều
nàng muốn đọc trong mắt chàng, cho dù chàng chẳng nói ra.