Trong năm mươi năm tới, khắp miền Nam sẽ có những phụ
nữ ngoái nhìn lại những thời đã chết và những người đã chết
bằng con mắt chua xót, gợi lại những kỷ niệm đau đớn và vô bổ,
chịu đựng nghèo khó với niềm tự hào chua chát về những kỷ
niệm ấy. Nhưng Scarlett thì không cần phải ngoái lại.
Nàng đăm đăm nhìn những phiến đá xạm đen và lần cuối
cùng, hình dung trại Mười Hai Cây Sồi hiện lên trước mắt
nguyên vẹn như xưa, giàu có và kiêu hãnh, biểu tượng của một
dòng giống và một lối sống. Rồi nàng cất bước đi xuôi con
đường về ấp Tara, chiếc làn nặng cắn vào da thịt.
Dạ dày trống rỗng của nàng lại cồn cào và nàng nói to: “Lạy
Chúa chứng giám, lạy Chúa chứng giám, bọn Yankee đừng hòng
quật ngã Scarlett này. Ta sẽ sống qua cơn bĩ cực này và khi mọi
sự kết thúc, ta sẽ không bao giờ chịu đói trở lại nữa. Không, cả ta
và những người thân của ta. Dù ta có phải ăn cắp hay giết
người… xin Chúa chứng giám, ta sẽ không bao giờ chịu đói trở
lại nữa!”.
Trong những ngày tiếp theo, ấp Tara giống như hòn đảo
hoang của Robinson vì nó xiết bao u tịch, xiết bao xa biệt với thế
giới còn lại. Thế giới chỉ cách đó có mấy dặm, nhưng giữa Tara
và Jonesboro, hay Fayétvin, hay Lavơjoi, thậm chí giữa ấp Tara
và những đồn điền lân cận, tưởng chừng là hàng nghìn dặm
sóng xô. Con ngựa già chết là họ mất luôn cái phương thức
chuyên chở duy nhất và họ không có thời gian cũng chẳng có
sức cuốc bộ những dặm đường đất đỏ mệt mỏi.
Đôi khi, trong những ngày làm việc đến gãy sống lưng, trong
cuộc vật lộn điên cuồng để kiếm thức ăn và không ngừng chăm
sóc ba nữ bệnh nhân, Scarlett chợt thấy mình căng tai ra ngóng
những âm thanh quen thuộc – tiếng cười the thé của lũ trẻ con
da đen trong xóm nô, tiếng xe bò cót két từ ngoài đồng về, tiếng
vó rộn khi con ngựa của ông Gerald băng qua bãi cỏ chăn súc
vật, tiếng bánh xe ngựa lao xao trên lối đi rải sỏi và tiếng xôn