lộ Tây Ban Nha để về nhà. Ngay sau Ngã ba Funkturm, ngang khán đài Avus
cũ kỹ xiêu vẹo mà ngày xưa người xem đã từ ở trên đó theo dõi những cuộc
đua ô-tô trong mùa hè, thường xuyên có một người đàn ông già đứng ở đấy
và quan sát xe cộ đang nhộn nhịp lúc tan tầm. Ông ấy đứng đợi bên cạnh một
chiếc xe đạp nữ cũ mèm mà ông ấy đã dùng để đạp đến, bên cạnh một lỗ
hổng của hàng chắn cạnh đường Messedamm. Đó là nơi duy nhất giữa
Wedding và Potsdam mà người ta không dựng hàng rào chống ồn hay tường
che. Cứ mỗi lần khi Viktor lao ngang qua ông ấy với tốc độ 100 km/h, ông lại
tự hỏi không hiểu điều gì xui khiến người đàn ông đó cứ nhìn theo đèn chiếu
hậu của vô số những chiếc ô-tô. Viktor bao giờ cũng lái chiếc xe Volvo chạy
ngang qua đó quá nhanh. Nhanh đến mức trong hàng trăm ngày đấy ông
không bao giờ có thể quan sát được nét mặt của người đàn ông đó. Tuy nhìn
thấy ông ấy gần như hàng ngày, nhưng ông sẽ không thể nhận ra được ông ấy
khi gặp mặt.
Vào một ngày nào đấy Josy cũng nhìn thấy ông ấy khi cùng với Isabell đi
về nhà sau buổi lễ hội quần chúng Đức-Pháp.
‘Sao ông ấy lại đứng ở đấy?’ cô bé hỏi và quay người lại phía sau trong
lúc chạy ngang qua.
‘Ông ấy hơi điên điên một chút,’ Isabell chẩn đoán một cách khô khan,
nhưng Josy lại hoàn toàn không đồng ý.
‘Con nghĩ ông ấy tên là Albert,’ cô bé lầm bầm nhỏ cho chính mình,
nhưng Viktor vẫn nghe được.
‘Tại sao lại là Albert?’
‘Vì ông ấy là một người già và cô đơn.’
‘À, người già cô đơn có tên là thế đấy?’
‘Vâng,’ là câu trả lời đơn giản của cô bé và cùng với nó, câu chuyện chấm
dứt. Từ đó, con người xa lạ ở ven đường có một cái tên, và Viktor thỉnh
thoảng lại còn bắt gặp chính mình gật đầu chào ông ấy khi chạy ngang qua đó
vào những ngày trong tuần.
‘Xin chào, Albert!’
Mãi rất lâu sau đó, khi ông tỉnh cơn say trên sàn đá hoa cương của phòng
tắm vào một ngày nào đấy, ông mới biết rằng Abert cũng tìm một cái gì đó.