Hạnh ngắt lời:
“Quẳng bác sĩ đi!”
Rồi Hạnh đỏ mặt nói tiếp:
“Mợ khỏe lắm, chỉ độ tuần lễ sau là lành mạnh như thường. Chị lên gác à?
Chị nhớ nói với mợ là tôi sẽ lên thăm mợ nếu mợ đừng nói huyên thiên.
Tôi phải xuống vì mợ cứ nói ba hoa luôn miệng. Theo lời bác sĩ Kiên
dặn thì mợ phải nằm yên.”
Tôi kể lại những lời ấy cho mợ Hạnh. Mợ ấy có vẻ hơi bị sốt kích thích, vui
vẻ trả lời tôi:
“Tôi vừa cất tiếng nói thế mà cậu ấy đi ra luôn hai lần, vừa đi vừa khóc.
Được, chị cứ bảo cậu ta rằng tôi hứa sẽ không nói nữa, không nói thôi chứ
còn cười vào mặt cậu ta thì tha hồ đấy.”
Thực là đau thương! Cho đến ngày mợ Hạnh chết, mợ vẫn luôn luôn vui
vẻ. Còn chồng thì cứ nhất định một cách bướng bỉnh, một cách dữ dội nữa,
rằng sức khỏe vợ mình một ngày một tăng cường. Bác sĩ Kiên bảo cho
Hạnh biết rằng bệnh tình đến nước ấy thì sự chữa chạy của ông là vô dụng
và ông cũng không muốn Hạnh phải tốn tiền vô ích. Hạnh đáp:
“Tôi biết là vô ích... nhà tôi khỏi... không cần làm bận phiền đến ông, nhà
tôi chả bị ho lao bao giờ. Đấy chỉ là một cơn sốt, bây giờ đã hết; mạch nhà
tôi cũng yên như mạch tôi lúc này và má cũng mát như má tôi.”
Hạnh kể cho vợ nghe và vợ cũng ra chiều tin. Nhưng một đêm, đương lúc
tựa vào vai chồng, mợ vừa bảo chồng là ngày mai mợ có thể đi lại như
thường được thì mợ bị một cơn ho...một cơn nhẹ thôi. Chồng giơ tay nhấc
vợ lên; mợ Hạnh ôm vòng lấy cổ chồng và nét mặt biến sắc: mợ Hạnh chết
ngay lúc đó.
Cậu bé Yên Hạ chuyển sang tay tôi nuôi nấng. Miễn là nó khỏe mạnh,
không khóc, là cậu Hạnh yên lòng vì đứa con. Còn cậu Hạnh thì đau khổ
đến cùng cực, cậu ta đau khổ nhưng không than vãn, không khóc cũng
không cầu nguyện. Cậu luôn miệng nguyền rủa, oán trách, ghét cả đức
Chúa Trời, ghét hết mọi người và đắm mình trong một cuộc sống bừa bãi.
Đầy tớ không ai chịu nổi sự tàn nhẫn và sự cư xử hỗn loạn của ông chủ,