đầu cho kỷ Cố cận (hay kỷ Paleogene). Chẳng hạn, những trầm tích cuối kỷ
Phấn trắng gồm những gì còn lại của rất nhiều loài tên đá - những sinh vật
giống như mực bị bỏ lại trong các hóa thạch có hình thù như đầu đạn.
Nhưng hóa thạch tên đá chưa bao giờ xuất hiện trong các lớp đá lắng trước
đó. Điều tương tự cũng đúng với loài cúc đá và loài sò hai vỏ dày - những
động vật nhuyễn thể đã tạo nên các dải san hô đông đúc (Sò hai vỏ dày đã
được mô tả là những con hàu giả vờ làm san hô). Với Lyell, đơn giản là
không thể, hay “phi triết học” nếu tưởng tượng rằng “lỗ hổng lớn” này đại
diện cho điều có vẻ là thế - sự thay đổi đột ngột và sâu sắc ở quy mô toàn
cầu. Vì thế, trong một nhận xét có phần lý luận vòng quanh, ông quả quyết
khoảng trống về hệ động vật đó có thể chỉ là một khoảng trống trong hồ sơ
hóa thạch. Sau khi so sánh các dạng thức của sự sống ở cả hai bên của
khoảng trống giả định, Lyell kết luận rằng sự gián đoạn còn chưa ghi nhận
được hẳn phải dài, đại khái tương đương với toàn bộ khoảng thời gian đã
qua khi hồ sơ hóa thạch được nối lại. Sử dụng các phương pháp định niên
đại lúc bấy giờ, chỗ khuyết mà ông xác định được cho là khoảng 65 triệu
năm.
Cả Darwin nữa, cũng đã biết rõ về sự gián đoạn vào cuối kỷ Phấn trắng.
Trong cuốn Origin, ông nhận xét rằng sự biến mất của loài cúc đá có vẻ “đột
ngột một cách kỳ diệu”. Và, cũng như Lyell, ông bác bỏ loài cúc đá cũng
như những gì lẽ ra có thể rút ra từ chúng. “Về phần tôi,” ông nhận xét,
Tôi nhìn vào hồ sơ địa chất tự nhiên, như một lịch sử của thế
giới được bảo tồn không hoàn hảo, và được viết bằng một phương
ngữ hay thay đổi; về lịch sử thế giới này, chúng ta chỉ sở hữu tập
cuối cùng, liên quan tới hai hay ba quốc gia. Trong tập này, ở chỗ
này hay chỗ kia mới chỉ có một chương ngắn được bảo tồn; và
trong mỗi trang, chỉ đây đó vài dòng.
Bản chất tản mát của hồ sơ ngụ ý rằng vẻ bề ngoài của sự thay đổi đột
ngột quả thật chỉ là làm ra vẻ mà thôi: “Với sự tôn trọng dành cho sự diệt