khúc chai trong tay. Ý tôi là, hắn đâm nạn nhân ở cổ chục lần. Mải mê đâm
nên không chú ý gì cả. Đâm xong, hắn đi ngang qua bãi cỏ mới để ý thấy
còn giữ chai nên ném nó qua một bên. Ít ra thì như vậy cũng hợp lý phần
nào.”
Gurney gật đầu, không hoàn toàn bị thuyết phục nhưng không thể đưa ra
một giả thuyết hợp lý hơn. “Đó là yếu tố ‘thật sự quái lạ’ mà lúc nãy anh đề
cập ư?”
“Cái đó ư?” Hardwick nói kèm một giọng cười nghe giống tiếng sửa hơn.
“Anh còn chưa xem hết mà.”
Mười phút sau, đi thêm 800 mét nữa, hai người đến một vị trí trong rừng
ngay trước một lùm thông trắng. Tiếng xe đi ngang qua báo hiệu họ đang
gần đường lộ, nhưng họ không thấy chiếc xe nào vì tầm nhìn đã bị những
cành thông thấp lè tè che khuất.
Thoạt đầu anh không rõ tại sao Hardwick lại dẫn anh đến đây. Nhưng rồi
anh thấy nó – và bắt đầu khám xét khu vực xung quanh với nỗi hoang mang
càng lúc càng cao. Những gì đập vào mắt anh hết sức vô lý. Dấu chân mà họ
đang lần theo bỗng dừng lại đột ngột. Dấu chân nếu lúc nãy còn hằn trên
tuyết theo một trình tự rõ rệt, hết dấu này đến dấu khác suốt đoạn đường
khoảng 800 mét hoặc hơn, thì giờ đây lại đột ngột biến mất. Không có dấu
hiệu nào cho thấy chuyện gì đã xảy ra với người để lại dấu chân. Tuyết xung
quanh còn mới tinh, chưa bàn chân người hay thứ nào khác chạm đến. Vệt
dấu chân kết thúc cách chỗ cây gần nhất đúng 3 mét, và có lẽ cách đường lộ
gần nhất tối thiểu 91 mét, nếu dựa vào tiếng xe vừa đi ngang qua.
“Tôi đã bỏ sót thứ gì chăng?” Gurney hỏi.
“Chúng tôi cũng bỏ sót thứ anh bỏ sót,” Hardwick nói, giọng nghe nhẹ
nhõm vì Gurney chưa tìm ra được lời giải thích đơn giản nào mà hắn và
đồng đội mãi vẫn chưa tìm ra.
Gurney xem xét kỹ hơn vùng đất quanh dấu chân cuối cùng. Cách dấu
chân hằn sâu này là một khu vực nhỏ có nhiều vết lún chồng lên nhau, toàn
bộ đều có vẻ do cùng một đôi ủng leo núi để lại như các dấu chân đã dẫn họ
đến đây. Như thể hung thủ đã cố tình đi đến vị trí này, đứng loanh quanh