Bọn địa chủ thỉnh thoảng dùng "các điểm chiến lược". Chúng đặt tay
vào những nơi có thể xây dựng các công trình Nhà nước: nhà ga, đường sá,
kho tàng và chợ. Khi chính quyền muốn xây dựng một trong những công
trình ấy, nó phải trả toàn bằng vàng, vì nó có thể trưng thu và đuổi dân bản
xứ, nhưng không dám sờ đến sở hữu của bọn thực dân.
Và như vậy, bọn đầu cơ vơ vét cả hai tay.
Tình cảnh nông dân các thuộc địa đó như thế nào? Thật là khủng khiếp.
Khó có thể nói được rằng ai trong số họ: người An Nam ở Đông Dương,
người da đen ở Cônggô hay là Xênêgan, hay là người bản xứ ở Bắc Phi - bị
bóc lột nhiều hơn.
Giữa những người ấy có một cái chung:
1- Tất cả họ bị dồn đến tình cảnh con vật thồ.
2- Họ không chỉ bị những kẻ chiến thắng bóc lột, mà còn bị những
người bản xứ bóc lột nữa: những kẻ chơi trội, những tên kẻ cướp mà nếu
thiếu những kẻ này thì không thể có sự đô hộ nào của nước ngoài.
Các viên chức, quan lại, bọn tư sản mới và bọn người bản xứ cho vay
nặng lãi kết thúc công việc ăn cướp của bọn người da trắng, và nông dân nếu
thoát được ách bọn này thì lại rơi vào tay bọn khác.
Bị đuổi khỏi những đồng ruộng được tưới nước trù phú, sống
chen chúc ở những đồng bằng chật chội và những vùng rừng núi xơ
xác, nông dân những thuộc địa đó sống trong cảnh khốn cùng ghê
gớm. Những người nào trong số họ còn lại một mẩu đất con nào thì
cũng nhanh chóng bị tước đoạt lâu dài. Tỷ suất cho vay bằng tiền
cũng như bằng hiện vật có tính ăn cướp không thể tưởng tượng
được: từ 20 đến 200% (người châu Âu cho vay lấy lãi 20%, người Do
Thái 35%, người Kabin 75%, người Môdabít 80% và ở nơi hẻo lánh
tới 200%). Kiểu ăn cướp đó gọi là ranhia. Do tỷ suất lãi quá cao,
người nông dân không bao giờ trả xong nợ. Lúc đó, người cho vay
lãi đến chiếm ruộng và trở thành camétxát, còn người chủ cũ thành
camét. Camét tiếp tục cày cấy mảnh đất của mình, nhưng phải nộp
người chủ mới bốn phần năm mùa màng.