HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN - Trang 158

19

số vĩ....”

ðó tức là cái nghĩa nhiều ít, như : “

mùa Xuân, Du ở cổ gáy, mùa Hạ du ở Hung, hiếp ; mùa Thu du ở Kiên, bối ; mùa

ðông du ở Yêu, cổ...”

ðó tức là cái nghĩa cao thấp.


_________________________________ KINH VĂN ______________________________________

--. Huyết khí ñã dồn, bịnh hình ñã thành, âm-dương ñã lệch (không quân bình) ; nên bổ tả như thế nào ?

--. Muốn tả Thực : chờ cho khí thịnh, sẽ “nạp” châm... Châm với khí cùng nạp (tức thích vào), ñể mở cửa cho

tinh khí lưu ở trong ; rồi châm với nhiệt-tà cùng rút ra ; như thế tinh khí sẽ không bị thương, mà tà khí cũng giáng

xuống ; ñừng vít lỗ châm cho bịnh rút ra ; lại xoay chuyển mũi châm cho ñường lối thêm rộng ; ñó tức là phương-

pháp ñại tả. Kíp dồn cho ra, ñại-khí (tức là khí) mới ra.

--. Bổ hư như thế nào ?

--. Tay cầm châm, chú ý vào châm. Chờ lúc bịnh nhân thở ra (HÔ) sẽ nạp châm ; chờ lúc bịnh nhân hút vào

(HẤP) sẽ rút châm. Lúc nạp châm ñừng xoay chuyển, khiến tịnh-khí không thể tiết ra ñược ; chờ lúc chính-khí ñã

thực, sẽ kíp rút châm ; lựa cho chính khí lọt vào, giữa lúc châm vừa mới rút ra thời nhiệt-tà không thể lại lọt vào

trong... Khí-môn ở bên trong ñã ñóng thời tà-khí sẽ phải bố tán ở bên ngoài, mà tinh khí sẽ còn giữ ñược mãi.

Dưới châm khí ñộng, ñợi lúc ñến nơi, khiến cái khí “thiển cận” không tán thất ra bên ngoài ; cái khí “thâm viễn”

ñược giữ yên ở bên trong. ðó tức là một phương-pháp bổ chính mà lại kiêm cả tán tà vậy.

Hoàng-ðế hỏi rằng :

--. Phu-tử nói hư thực có 10 loại, sinh ra bởi 5 Tạng. Năm Tạng chỉ có 5 mạch thôi. Ngẫm như 12 kinh ñều

sinh ra bịnh ; giờ Phu-từ chỉ nói riêng 5 Tạng. Vậy 12 kinh mạch kia ñều “lạc” ba trăm sáu mươi lăm tiết (khớp

xương). Mỗi tiết có bịnh tật phải lây sang kinh mạch. Bịnh ở kinh mạch ñều có hư thực, vậy lẽ ñó thế nào ?

Kỳ-Bá thưa rằng :

--. 5 Tàng hợp với 6 Phủ cùng làm biểu-lý, kinh mạch chi tiết, ñều sinh hư thực. Hễ bịnh ở nơi nào sẽ theo

ngay nơi ñó ñể ñiều trị. – Bịnh tại mạch, ñiều trị ở huyết ; bịnh ở huyết, ñiều trị ở lạc ; bịnh tại khí ñiều trị ở Vệ ;

bịnh tại Nhục, ñiều trị ở phận nhục ; bịnh tại Cân, ñiều trị ở Cân ; bịnh tại Cốt, ñiều trị ở cốt.

ðốt châm (ñem châm ñốt cho nóng), ñể thích ngay vào nơi bịnh cấp ; nếu bịnh tại cốt, thời ñốt châm cho

nóng, “nhúng” vào nước thuốc rồi sẽ châm ; châm rồi lại dùng thuốc ñể “chườm”

(1)


(1)-. “ðốt châm” nguyên Hán-văn là “phần châm” (chữ phần cũng có âm là phiền) tức như ngày nay Tây-y lúc sắp “tiêm”

ñem ñốt kim tiêm. – Về phép này, chuyên ñối với “cấp bịnh” mới phải dùng.


_________________________________ KINH VĂN ______________________________________

Bịnh ñau, mà không biết ñau ở ñâu, nên thích ở trên LƯỠNG KIỂU. (ðau một cách lan man, không nhất ñịnh

nơi nào. Kiểu-mạch khởi từ Túc-khoả).

Thân hình có hơi ñau, mà xét ở chín “hậu” lại không có bịnh, thời dùng phép MẬU-THÍCH

(1)


(1)-. ðau bên tả, thích bên hữu ; ñau bên hữu, thích bên tả, gọi là Mậu-thích. Về phép này, dưới ñây ñã có một thiên

chuyên nói về MẬU-THÍCH. ðây miễn giải.


_________________________________ KINH VĂN ______________________________________

ðau bên tả mà mạch bên hữu mắc bịnh : dùng phép CỰ-THÍCH ñể ñiều trị. Phải cẩn thận tinh tế xét ở chín

Hậu, thời ñối với phép châm sẽ ñược hoàn toàn.

Phép CỰ-THÍCH cũng nói rõ ở thiên MẬU-THÍCH.,.



-- o0o --