HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN - Trang 183

22

(1). «

Trên thấy »

là nói về cái khí Tư-thiên, thấy ở trên Tuế-vận.

« về năm Thổ-vận trên thấy Thái-âm »

tức là 2 năm

Kỷ-Sữu, Kỷ-Vị ; « về năm Hoả-vận trên thấy Thiếu-dương » tức là 2 năm Mậu-Dần, Mậu-Thân ; « lại trên thấy Thiếu-âm » là 2
năm Mậu-Tý, Mậu-Ngọ ; « về năm Kim-vận trên thấy Dương-minh » tức là 2 năm Ất-Mão, Ất-Dậu ; « về năm Mộc-vận trên thấy
Quyết-âm » tức là 2 năm ðinh-Tý, ðinh-Hợi ; « về năm Thuỷ-vận trên thấy Thái-dương » tức là 2 năm Bính-Thìn, Bính-Tuất. –
ðó là cái khí Tư-thiên cùng cái khí năm vận hợp nhau, nên gọi là THIÊN-PHÙ (chữ PHÙ là cái dấu, cái ấn ; có nghĩa bóng là
hợp nhau, in như nhau.Ta có thành ngữ PHÙ HỢP).


_________________________________ KINH VĂN ______________________________________

Hoàng-ðế hỏi :

--. Thiên-phù với Tuế-hội như thế nào ?

Kỳ-Bá thưa rằng :

--. Như vậy gọi là THÁI-ẤT THIÊN-PHÙ….

(1)

--. Qúi tiện như thế nào ?

--. Thiên-phù như chấp pháp ; Tuế-hội như hành lịnh. Thái-ất Thiên-phù như Qúi-nhân

(2)

--. Tà « trúng » vào như thế nào ?

--. Trúng vào Chấp-pháp, thời bịnh chóng mà nguy. Trúng vào Hành-lịnh thời bịnh từ từ mà chậm. Trúng vào

Qúi-nhân thời bạo bịnh mà chết.

(3)

--. Vị thay ñổi, thời như thế nào ?

--. Quân ở vào vị Thần thời thuận ; Thần ở vào vị Quân thời nghịch ; nghịch thời bịnh gần mà lại chóng ;

thuận thời bịnh xa mà nhẹ… ðó là sự thuận nghịch của Hoả.

(4)



(1). Như Thiên-phù với Tuế-hội cùng hợp thì gọi là THÁI-ẤT THIÊN-PHÙ. – ðó là 4 năm MẬU-NGỌ, KỶ-SỮU, KỶ-VỊ, ẤT-

DẬU…. Do cái khí của Tư-thiên, cái khí của Ngũ-vận và cái khí của chủ tuế tương hợp. Nên cũng gọi là TAM-HỢP.

(2).

VƯƠNG-BĂNG

nói : «

Chấp-pháp cũng như Tể-tướng, hành lịnh cũng như Phương-bá, quí-nhân cũng như Quân

vương »

(ñây là hình dung về công năng).

(3).

VƯƠNG-BĂNG

nói : «

vị chấp pháp là chuẩn thằng của các quan chức. Vậy mà lại làm sự càn bậy, nên bịnh phát sinh

chóng mà nguy. PHƯƠNG-HÀ tuy to nhưng không có cái quyền chấp pháp, nên không chóng bị hại, mà dù mắc bịnh cũng còn

‘tự chi ‘ ñược. Qúi-nhân thời không có cái nghĩa bị lăng phạm, nên nếu mắc bịnh thời bạo tử. »

(4). ðịa lý ứng với 6 Tiết, ñó là do ở 6 khí chủ thời là một cái vị không hề thay ñổi. Nhưng lại còn có 6 khí « gia lâm » ,

theo Tư-thiên, tại toàn ñể hoàn chuyển về 6 « cơ ». Cho nên mới nói ñến sự « thay ñổi của VỊ ». Tỉ như Thiếu-âm Quân hoả
gia lâm lên trên Thiếu-dương Tướng hoả. Thế là Quân ở vào ñịa vị của Thần, thời thuận. Nếu Thiếu-dương Tướng hoả gia lâm
lên trên Thiếu-âm Quân hoả, thế là Thần ở vào vị của Quân, thời nghịch. ðó là sự thuận nghịch của 2 Hoả. – Theo ñó mà suy
ra, thời 4 khí kia cũng có cái sự phân biệt là mẹ, con. Nếu mẹ ở trên con thời thuận, con trên mẹ là nghịch. Cũng cùng một
nghĩa.



_________________________________ KINH VĂN ______________________________________

Hoàng-ðế hỏi :

--. Xin cho biết thế nào là BỘ ?

Kỳ-Bá thưa rằng :

--. Mỗi một Bộ, tính ñược 60 ñộ, có lẻ. Cho nên cứ 24 bộ sẽ chứa ñược « doanh » (ñầy, ñủ) một trăm KHẮC

mà thành một ngày thừa.

(1)



(1). ðây nói về sự gia lâm của 6 khí. Vì mỗi một khí ñều chủ 60 ngày linh 87 khắc rưỡi. Cho nên là « 60 ñộ mà có lẻ ».

Tính trong 4 năm cộng ñược 24 bộ, mà mỗi bộ « khí doanh » 87 khắc rưỡi. Vậy « tích doanh » (chứa ñầy, ñủ) 200 khắc. Lấy
200 khắc, chia vào khí của 4 năm, « doanh » 100 khắc, do ñó mới thừa 1 ngày.


_________________________________ KINH VĂN ______________________________________

Năm ðINH-MÃO = « sơ chi khí » bắt ñầu ở 76 khắc, cuối cùng là 62 khắc rưỡi ; « Nhị chi khí » bắt ñầu từ 62

khắc 6 phân, cuối cùng là 50 khắc ; « Tam chi khí » bắt ñầu từ 51 khắc, cuối cùng là 37 khắc rưỡi ; « Tứ chi khí »

bắt ñầu từ 37 khắc 6 phân, cuối cùng là 25 khắc ; « Ngũ chi khí » bắt ñầu từ 26 khắc, cuối cùng là 12 khắc rưỡi ;

« Lục chi khí » bắt ñầu từ 12 khắc 6 phân, cuối cùng là thuỷ-hạ 100 khắc. ðó là khí thứ 4 ở trong 6 khí, tính theo

số của Trời vậy.

(1)

ðến năm sau là năm MẬU-THÌN « Sơ chi khí » lại bắt ñầu khắc thứ 1. Cứ như thế mãi, hết

vòng lại bắt ñầu.



(1). Năm ðINH-MÃO = « Sơ chi khí » bắt ñầu từ ngày 1916 linh 75 khắc, cuối cùng là ngày thứ 1461, thuỷ-hạ 100 khắc.

Vậy là mỗi năm ñều là 365 ngày linh 25 khắc. Bốn năm cộng ñược 1461 ngày, lại tích-doanh 100 khắc mà thành ñược 1 ngày