khôn ngoan kêu gọi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF giúp đỡ. Trước khi
ông thu xếp ổn thỏa với IMF vào cuối tháng 10/1997, Tổng
thống Suharto, thông qua đặc phái viên của mình, đã kêu gọi
Thủ tướng Goh ủng hộ nhằm cải thiện thế mặc cả với IMF. ông
Goh đã thảo luận việc này với Bộ trưởng Tài chính Richard Hu
và tôi trước khi đưa vấn đề ra trước nội các. Chúng tôi tin một
cách chính đáng rằng nền kinh tế Indonesia lành mạnh hơn
kinh tế Thái Lan. Họ không có thâm hụt vốn kể cả trong tài
khoản và trong ngân sách, khoản nợ nước ngoài được báo là
không lớn, và lạm phát thấp. Vậy nên tôi đồng ý hỗ trợ họ tới 5
tỷ đôla Mỹ, nhưng chỉ ủng hộ sau khi Indonesia đã sử dụng hết
khoản vay khoảng 20 tỷ USD từ IMF, Ngân hàng Thế giới, Ngân
hàng Phát triển châu Á, và từ quỹ dự trữ của họ. Singapore cũng
hứa can thiệp vào thị trường ngoại hối để hỗ trợ đồng rupia một
khi Indonesia đã đạt được thỏa thuận với IMF. Viện trợ trọn gói
của IMF dành cho Indonesia lên tới 40 tỷ USD, Nhật Bản cũng
đồng ý hỗ trợ Indonesia tới 5 tỷ USD. Ngay sau khi thỏa thuận
với IMF được ký kết, các ngân hàng trung ương Indonesia, Nhật
Bản, Singapore đã phối hợp trên cơ sở tham vấn và can thiệp
nhằm nâng giá trị của đồng rupia từ 3.600 lên 3.200 rupia một
đôla Mỹ. Trước khủng hoảng, cứ 2.500 rupia ăn một đôla Mỹ.
Sự cải thiện này đã bị hủy hoại khi Tổng thống Suharto khôi
phục một số trong tổng số 14 dự án lớn về kết cấu hạ tầng đã bị
hủy bỏ theo thỏa thuận với IMF. Trong các dự án được phục hồi
có dự án nhà máy điện mà trong đó có lợi ích của bà Siti
Hardiyanti Rukmana (Tutut), con gái đầu của Tổng thống. Một
trong số 16 ngân hàng bị đóng cửa do mất khả năng chi trả
(ngân hàng này do con trai Tổng thống sở hữu) cũng được phép
mở cửa dưới một tên hiệu khác. Phản ứng của thị trường là bán
tháo đồng rupia. Mười sáu ngân hàng này chỉ là một phần nhỏ