KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM - Trang 1104

1104

bà cuốc phải ñuôi một con. Từ ñó dân làng gọi chúng là ông Cộc và ông Dài, và
cũng lập miếu thờ, v.v...

1

.

Cho ñến vùng Nghệ - Tĩnh, truyện kể ñã có phần khác, nhưng vẫn còn hình

ảnh con rắn bị ñứt ñuôi:

Đời Lý, có hai vợ chồng người làng Chi-châu, huyện Thạch-hà, lấy nhau ñã

lâu mà chưa có con. Một hôm họ hứng nước mái nhà, ñến canh tư thấy có ngôi
sao sa vào vò, người vợ uống nước ấy có thai, nhưng ba năm chưa ñẻ. Sau ñó ñẻ
ñược ba quả trứng vỏ xanh, nở ra ñược ba con rắn. Chúng thường quấn quít ñi
theo bố mẹ, vì vậy một hôm người bố vô tình chặt ñứt ñuôi một con. Nó tự nhiên
biến thành chàng trai lịch sự nói: - "Chúng tôi ñầu thai giúp nước, nay con ñã bị
bố lỡ tay như vậy, sẽ lên trời làm sóng gió cho thiên hạ biết". Nói rồi biến ñi, sau
trở thành thần sông, còn hai con kia ở lại trở thành tướng tài của nhà Lý, thường
cầm quân bảo vệ biên cương chặn ñứng giặc ngoài xâm lược

2

.

Người Nghệ-an còn có truyện Rắn cụt ñuôi, sơ lược như sau:

Một người ở làng kẻ Nhoi, xã Yên-ñổ ñi thuyền ra sông chài lưới, tự nhiên

ñược một cái trứng, ñưa về cho gà ấp nở ra một con rắn có mào ñỏ. Người ấy
mấy lần bỏ xuống sông, nó lại theo về nhà, ñành phải nuôi như con. Rắn càng
lớn trông như rồng. Ông muốn giết, bèn nhân khi ñào bờ ruộng lấy thuổng xắn
cho chết, không ngờ chỉ ñứt một khúc ñuôi. Bỗng nhiên thấy trời nổi gió bão.
Người ấy sợ, bèn bế rắn về, ñắp thuốc cho nó. Từ ñấy gọi nó bằng ông Cụt. Một
hôm ông bảo rắn: - "Đã thế thì con ưng ở nơi nào, nói cho cha biết, kẻo cứ thế
này mãi tiếng ñồn lên quan, quan sẽ bắt tội". Thấy nó gật, ông chèo thuyền ñi,
nó bơi theo sau. Vực nào rắn cũng lặn xuống, nhưng ñều lắc ñầu. Đến vực Câu
nó mới chịu ở, từ ñấy không về nữa. Nhưng cũng từ ñấy người hay súc vật lội
qua ñây thường bị rắn bắt, nên ít ai qua lại. Về sau nhân một vụ thiếu thuế, quan
liền báo lên Thiên tào nói là tại ông Cụt, nên dân bỏ phế công việc. Thiên tào
phải chật vật lắm mới bắt ñược rắn ñem giam ở hồ, dân mới ñỡ khổ

3

.

1

Đều theo Bô-na-pha-xi (Bonifacy). BEFEO, tập XVIII (1918). Mô-típ truyện vùng sông Cầu

ñồng thời cũng lưu hành ở dân tộc Lô-lô với truyền thuyết: Người ñàn bà góa và hai con rắn
có thêm ñoạn cuối chặt gỗ tạc tượng rắn và người ñàn bà.

2

Theo Jê-ni-bren (Génibrel). Truyện ñời xưa mới in ra lần ñầu hết. Một dị bản khác kể: Xưa

gần thôn Chỉ-châu có hai vợ chồng là ông Mái mụ Mái. Người vợ một hôm nhặt ñược (không
phải ñẻ ra) ba quả trứng lạ, bèn ñem thả ở ngã ba sông, tự nhiên thấy sóng gió ñùng ñùng, một
chốc mới tạnh. Sau ñó một hôm, ông Mái cuốc bờ ruộng, ba con rắn ñến vây quanh nhảy nhót,
không ngờ ông cuốc nhầm phải ñuôi một con. Rồi ñó cả ba con ẩn dưới vực Đan-hai, người ta
gọi chúng là Tam lang, tức là chàng Cả, chàng Hai và chàng Ba Long vương (Theo Nghệ-an
phong thổ chí
).

3

Theo Bản khai của tổng Quỳ-châu, Quỳ-dương.