1310
2. Một ông vua theo ñuổi vợ một người dân. Một hôm ñứng trước vua, thấy
vua và quan thượng cười, anh cũng cười theo. - "Mày cười gì ñấy?", quan
thượng hỏi. - "Không", anh ñáp: - "Không là cái quái gì? Mày hãy ñi tìm cho
ñược nó rồi ñưa nó về ñây. Vua tán ñồng, ra lệnh bảo phải ñi tìm, không có
không ñược. Anh buồn bã trở về kể cho vợ hay. Vợ bảo rồi sẽ tìm cho, không
khó. Bèn cho ñào mấy hố trong buồng của mình, ñặt vào ñó một thùng ñầy
nhựa. và ở một hố khác, một thùng ñầy lông chim. Rồi bảo chồng ñến báo với
vua là ñã tìm ñược, mời vua ñến vào một giờ hẹn. Vua ñến lả lơi với người ñàn
bà. Sau ñó không lâu có tiếng ñập cửa. Người ñàn bà hỏi: - "Ai?" - "Ta là chồng
nàng" - "Sao lại về?" - "Để lấy vũ khí". Nghe nói, vua sợ, hỏi: - "Trốn ñâu bây
giờ?". Người ñàn bà mở cửa buồng thứ nhất cho vua vào. Vua rơi vào thùng
nhựa. Nàng kéo lên và cho vào buồng thứ hai, vua lại rơi vào thùng lông. Đoạn
nàng ra mở cửa cho chồng vào, nói là mình ñã tìm hộ cho cái "Không", cái
"Không" này không phải là người cũng không phải là chim. Anh vực cái
"Không" về cung, chẳng ai hiểu ñó là vua. Từ ñó vua tởn ñến già. Hai vợ chồng
sống yên ổn.
Truyện của Tây-tạng ñã có chép trong sách Can-jua (Kandjour):
Ma-hăng-sa-ña, quan ñầu triều, có một người vợ rất ñẹp và khôn ngoan tên là
Vi-sa-ka. Nàng ñã làm cho sáu quan thượng thư mê mẩn. Mỗi người ñeo ñuổi
nàng với nhiều hứa hẹn mà không ăn thua. Cuối cùng Vi-sa-ka xin chồng làm
một chuyện cho chúng tẽn. Bèn bảo chồng ñắp bệnh nằm nhà. Tin ấy ñến tai các
quán thượng. Nàng gửi cho mỗi người một thư mời ñến nhà vào giờ nọ giờ kia.
Trước ñó nàng thuê làm sáu cái hòm lớn ñặt vào sáu buồng khác nhau. Mỗi quan
ñến giờ hẹn tới nhà nàng ñược tiếp ân cần và cứ ñến lúc sắp ñược hưởng ơn huệ
cao nhất thì có tiếng gõ cửa và bị bỏ vào một hòm. Sáng dậy, nàng bắn tiếng là
Ma-hăng-sa-ña chết, mang ñến cho vua sáu hòm của cải của chồng. Vua chưa
hiểu ra thế nào thì Ma-hăng-sa-ña ñã tới cùng với vợ trang sức ñầy hoa. Nàng
kiện các quan thượng. Sau ñó các hòm mở ra. Ma-hăng-sa-ña kể cho vua hay
mọi việc và ñược vua khen ngợi.
Truyện của người Ca-sơ-mia (Cachemire) và người Ả-rập (Arabes), người Xi-
ri-a-cơ (Siriaques) cũng kể tương tự:
Chồng nàng U-pa-cô-sa ñi hành hương ở núi Hy-mã-lạp (Himalaya). Hàng
ngày, nàng ở nhà ñi tắm sông Hằng. Một hôm trên ñường về lần lượt gặp ba
người, một thượng thư, một linh mục (pu-rô-hi-ta) và một chánh án, ñều muốn
dùng bạo lực bắt nàng. Để ñược thoát nạn người ñàn bà ấy hẹn với mỗi người
ñến nhà mình trong một ñêm, nhưng với giờ giấc khác nhau. Trước ñó nàng sai
con hầu mang tiền ñến cho một lái buôn mà khi chồng ra ñi dặn gửi cho hắn.
Nhưng nàng lại quên không lấy chứng từ nên bị tên lái buộc phải ngủ với hắn
một ñêm, nếu không thì mất. Nàng hẹn hẹn hắn ñến nhà vào giờ chót. Nàng còn