KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM - Trang 171

171

vẫn gọi là ''cò văn tự", ñể chỉ những khế tự giấy tờ của nó mang theo luôn luôn
bên người. Dòng dõi Vạc thì chờ lúc tắt mặt trời mới rúc ra khỏi bụi tre và kêu
luôn mồm: - "Thua một vác! Thua một vác!"

1

. Trời chưa sáng, chúng nó ñã lò

mò về tồ, chỉ sợ dòng dõi nhà Cò bắt gặp. Dòng dõi của Dủ dỉ thường kêu những
tiếng ai oán: - "Đông Tây tứ chi bán hết! Mần như ri cực cực? Mần như ri cực
cực!"

2

. Dòng dõi Đa ña thì không dám trở về quê hương ñồng ruộng nữa. Tuy

thế, chúng nó vẫn kêu lên những lời tỏ ý tiếc nhớ ñời sống sung sướng ở ñồng
ruộng của cha ông chúng ngày trước: - "Tiếc rổ tép ña ña? Tiếc rổ tép ña ña!"

3

.

Dòng dõi Cộc thì thỉnh thoảng lại gào lên mấy tiếng: - "Thua rồi, ớ Cộc!" rồi
ñâm ñầu xuống nước, lặn một mạch thật xa mới trồi ñầu lên tìm chỗ vắng mà
ñậu. Còn chuột, người ta bảo trong việc làm gian lận nói trên, nó chả ñược lợi
lộc gì cả. Dòng dõi của nó ngày nay sống trốn tránh lẩn lút chỉ sợ con cháu Vạc
và Dủ dỉ báo thù. Miệng vẫn kêu mấy tiếng: - "Chín chục! Chín chục"

4

.

Tục ngữ có câu:

Con vạc bán ruộng cho cò,

Cho nên vạc phải ăn mò cả ñêm.

hay là:

Vạc sao vạc chẳng biết lo,

Bán ruộng cho cò, vạc phải ăn ñêm.

1

Ngày xưa, một vác tiền gồm có 5 quan ñồng, mỗi quan ñồng có 6 quan kẽm, vị chi 30 quan.

2

Có nơi cho tiếng kêu Dủ dỉ là: "Đi mô cũng cực! Đi mô cũng cực!".

3

Có người kể "Tiếc ñồng tép cha ta!" hay "Tiếc vùng tép của ta!" Lại có người kể: "Bát cát

quả cà?". Về lời kể sau, xem truyện Sự tích chim ña ña (số 9).

4

Theo lời kể của người Hà-tĩnh, Quảng-bình, và Ca-ñi-e (Cadière) trong BEFEO tập 1, số 3,

1901.