KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM - Trang 585

585

truyện cổ. Ông có năng khiếu của một nhà văn biết cách diễn dịch lại một cách
trung thành lòng nhiệt hứng, tính chân chất và nỗi rung cảm của những người kể
chuyện và nhà thơ dân gian. Dưới ngòi bút của ông, một số truyện cổ ñã hoàn
toàn trở thành những kiệt tác nho nhỏ, trong ñó thi cảm và hiện thực cuộc sống
hòa hợp vào nhau thành một thể thống nhất về ý vị (xem: truyền thuyết về ñá
Bà-rầu, I, tr. 205 - 207; truyền thuyết về ñứa cháu vô ñạo bị biến thành chim, I,
tr. 80 - 82). Một số truyện cổ khác lại tuyệt vời, vì tính buồn cười và phẩm chất
hài hước nảy sinh từ các hoàn cảnh nguy cấp của một hiện thực ñầy rẫy những
sự biến cấp tập, hoặc mang tính bi kịch, hoặc vừa bi vừa hài (xem truyền thuyết
giải thích vết sẹo dưới cổ loài trâu, I, tr. 136 - 138; truyền thuyết giải thích gốc
gác của loại ruộng "thác ñao" mà nghĩa ñen là ruộng ném dao; truyền thuyết về
người anh hùng dân gian và nông dân mang tên Chàng Lía, II, tr.125 - 132).

Cũng ñáng lưu ý là tính phong phú ña dạng của hệ tư liệu tham khảo ñã cung

cấp cho Nguyễn Đổng Chi chất liệu của các cổ tích. Hệ tư liệu ấy thoạt tiên dựa
trên các nguồn truyền miệng mà tác giả trực tiếp thu thập tại nhiều vùng từ Bắc
chí Nam của ñất nước, và cả tại một vài dân tộc thiểu số, chẳng hạn người Tiền
Đông-dương

1

trên các cao nguyên miền Trung Việt-nam. Tiếp ñó, hệ tư liệu ấy

còn dựa trên các văn bản viết bằng chữ Nho (Bội văn vận phủ, Thiếu vị thông
giám, Dân gian văn nghệ tuyển tập
), cũng như bằng tiếng Việt (các công trình
của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Ngọc) và tiếng Pháp (các
công trình của Cô-xcanh (Cosquin), Lăng-ñờ (Landes), Xét-xbrông (Cesbron),
Jê-ni-bren (Génibrel; Duy-mu-chi-ê (Dumoutier)...

Một trong những ưu ñiểm lớn của tác giả Kho tàng truyện cổ tích Việt-nam:

ông là người ñầu tiên ñã sắp xếp, sau văn bản của từng truyện, một loạt "dị bản",
cũng như các mặt ñối chiếu và ñiểm bổ sung, trích ra không chỉ từ lĩnh vực
truyện cổ Việt-nam, mà cả từ lĩnh vực ấy của nhiều tộc ở Cựu Thế giới: Trung-
hoa, Ấn-ñộ, Áp-ga-ni-xtăng (Afghanistan), châu Phi, Ma-ña-gát-xca
(Madagascar), Xi-xin (Cicile), Nga, Ả-rập (Arabie). Công việc này nối dài
những nghiên cứu của Cô-xcanh (Cosquin), của Prơ-di-luyt-xki (Przyluski),
v.v... về mối quan hệ bà con giữa các truyện ấy, về con ñường truyền bá các
truyện ấy từ lục ñịa này qua lục ñịa kia, hay từ tiểu lục ñịa này qua tiểu lục ñịa
kia, lần ñầu tiên ñược ñem ra áp dụng vào truyện cổ tích Việt-nam, và như thế là
ñã vượt qua giai ñoạn phân tích chỉ liên quan ñến chủ ñề, có thể nói là giai ñoạn
hình thái học. Công việc nghiên cứu ñó, về ngọn nguồn và gốc gác của truyện cổ
sẽ rất có ích và có lẽ là cần thiết nữa, ñể hiểu biết sự hình thành và phát triển của
nền văn minh Việt-nam, một nền văn minh có nhiều nguồn gốc bác tạp.

1

Các tác giả Pháp, hay viết bằng tiếng Pháp, thường dùng từ "Tiền Đông-dương" (proto -

Indochinois) ñể chỉ những tộc hiện nay ta quen gọi là Thượng (người dịch).