KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM - Trang 872

872

cuốn, như Sự tích chim tu hú, Gốc tích tiếng kêu của Vạc, Cộc, Dủ dỉ, Đa ña và
Chuột, Sự tích ñầm Mực... (tập I). Của Thiên trả Địa, Chàng Lía...(tập II), Con
chó, con mèo và anh chàng nghèo khổ, Ba Vành... (tập III), vân vân... Tác giả
ñã dụng công kết cấu từng truyện ñúng như cái cốt ban ñầu của chúng, ñể cho
mỗi truyện lôi cuốn người ñọc theo sự kết hợp mô-típ và chủ ñề riêng của nó,
tránh dàn ñều xóa nhòa sự dị biệt, ñặc thù nếu có, lại càng tránh xu hướng hiện
ñại hóa lộ liễu. Người ñọc không hề phải khó chịu vì ñọc những ñoạn văn tả
cảnh, tả tình dài dòng như ở một số tập truyện cổ tích khác. Lời văn kể chuyện
trong cả ba tập nói chung giản dị, dễ hiểu, ñôi chỗ dí dỏm, vui tươi. Có thể nói,
ở ñây, tác giả ñã cố gắng sử dụng ngôn ngữ kể chuyện của người bình dân và
cách diễn ñạt dân gian mà vẫn không làm cho các truyện rơi vào thô thiển. Cái
khó của truyện kể là xác ñịnh cho ñúng chủ ñề tư tưởng ban ñầu của câu chuyện
cổ, rồi kể làm sao cho nổi, cho sáng chủ ñề tư tưởng ñó một cách nghệ thuật,
hợp với luận lý. Ở truyện
Sự tích ñầm Mực, qua lời trao ñổi của Chu An với hai
anh học trò là con vua Thủy: - "Các con cố thứ nghĩ xem có thể lấy nước ở ñâu
ñược không? Không cứu ñược nhiều thì ta hẵng tạm cứu ít vậy!" - "Dạ, oai trời
rất nghiêm nhưng là thầy thì rất trọng. Chúng con xin vâng lời thầy", tác giả ñã
cho ta thấy ñạo ñức của ông thầy và tình nghĩa thầy trò sâu nặng. Người ta
thường gọi lối kể này là "khéo léo phục chủ ñề qua sự việc".

Tuy vậy, ở một số truyện, rải rác vẫn còn ñôi chỗ dùng từ cầu kỳ hoặc chen

vào một ñôi lời bàn không cần thiết, như. "Ngày xưa, có một vị hòa thượng trẻ
tuổi nổi tiếng chân tu. Mọi "thị dục" của bản thân, hòa thượng ñều kiên quyết
cắt ñứt, chỉ một lòng chuyên chú vào lẽ hư vô của ñạo Thiền", hoặc "Thế là
chuyến ñó Phật bà Quan âm không ñược hài lòng. Giận vị hòa thượng ñã thiếu
kiên trì trước sức cám dỗ của thị dục"... (Sự tích con nhái, tập I, sách ñã dẫn,
tr.119-121). Chữ "thị dục" tuy có giữ lại ñược màu sắc cổ kính của từ ngữ,
nhưng nên chăng ñổi sang một chữ khác cho bình dị hơn?

Ở một vài truyện, ngôn ngữ ñối thoại có lẽ còn phảng phất ảnh hưởng của

những văn bản thuộc loại hình khác, không phù hợp lắm với lối kể dân gian. Ví
dụ trong truyện
Vợ ba Cai Vàng, khi Cai Vàng mời ba vợ ñến họp bàn, tác giả
kể lại cuộc ñối thoại giữa họ với nhau:

"Ông nói. - "Tôi nay không khác gì cưỡi trên lưng hổ, sớm muộn bọn chúng

cũng chẳng ñể yên cho nào. Vậy tôi muốn một phen chọc trời khuấy nước, diệt
cho hết lũ tham tàn ñể vẫy vùng riêng một cõi. Ba nàng nghĩ sao?". Người vợ cả
thưa rằng. - "Châu chấu chống xe làm sao ñược! Chàng ñừng nghĩ dại dột! Cái
vạ diệt tộc hãy còn rình sau lưng ñấy! Mong chàng nghĩ lại thôi. Nếu chàng dấy
quân, thiếp ñành xin trở về nuôi mẹ. Một mai nhỡ có việc gì, thiếp xin phụng
dưỡng mẹ già thay chàng".

Người vợ hai cũng tiếp luôn: