trong chuyện làm ăn buôn bán, dì có đụng độ với ai không, có ai thù oán với dì đến mức rắp tâm bắt cóc thằng con dì để rửa hận không, nhưng quả tình dì
không tài nào nhớ ra. Và vào lúc thần trí hỗn độn như thế này mà bắt dì phải phăng ra ngay manh mối thì thật khổ thân cho dì quá.
Cuối cùng, mệt mỏi vì lo âu và bất lực, dì
Năm uể oải ngồi phệt xuống nền nhà và cố
tự an ủi là dù sao dì cũng đã biết được thằng T riều vẫn còn sống, dù tất nhiên là không rõ nó sống ở đâu và sống trong tay ai. Dì cũng mừng là đã kịp trông
thấy lá thư của bọn bắt cóc trước khi gọi điện thoại cho cô bảo mẫu. Nếu dì không phát giác ra lá thư, cùng cô bảo mẫu xộc đến đồn công an thì chẳng biết
chuyện khủng khiếp gì sẽ giáng xuống đầu thằng con bé bỏng của dì. Chỉ mới nghĩ đến thôi, dì đã nghe lưng nổi đầy gai ốc và tay chân run bần bật như người
mắc chứng động kinh.
Dượng Năm bước vào nhà vào lúc dì Năm vẫn còn đang ngồi dán lưng vào tường.
- Úy, sao bà lại ngồi đây?
Dượng trợn cặp mắt đỏ kè lên, hơi rượu phun ra theo câu hỏi. Nói chính xác thì câu hỏi phu ra theo hơi rượu, vì dì Năm ngửi thấy hơi men nồng nặc trước
khi ý thức
được dượng Năm muốn nói gì.
- T hằng T riều bị người ta đem đi mất rồi!
Dì Năm không buồn đứng lên, cũng có thể không đủ hơi sức để đứng lên. Dì cứ ngồi phệt dưới đất, ngước nhìn chồng, mếu máo đáp.
Rồi như không nén được nữa, dì òa ra khóc.
- Khóc, khóc cái gì! – Dượng Năm quát lên
– Bình tĩnh nói nghe thử nào! Ai đem thằng
T riều đi? Mà đem đi đâu?
Dì Năm đáp lại hàng loạt câu hỏi của chồng bằng ba chữ gọn lỏn:
- Bọn bắt cóc.
- Bọn bắt cóc? – Dượng Năm lặp lại, dường như ngay tức khắc dượng chưa kịp hiểu ra ý nghĩa của ba chữ đó.
Dì Năm trả lời chồng bằng cách khóc to hơn. T iếng khóc của dì tuôn ra xối xả, nếu không tràn ngập được căn nhà thì rõ ràng cũng đã ít nhiều làm ướt được
dượng Năm.