LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 151

không phải giống như thời cận đại − sử dụng luật pháp như sức mạnh tàn
bạo chống lại kẻ yếu.

Tu chính án số 1 của Dự luật về các Quyền cho thấy lợi ích ẩn đằng sau sự
vô tội. Được Quốc hội thông qua năm 1791, nó quy định “Quốc hội không
được xây dựng luật… nhằm hạn chế quyền tự do ngôn luận, hoặc tự do báo
chí…”. Bảy năm sau khi Tu chính án số 1 có hiệu lực với Hiến pháp, Quốc
hội lại thông qua một dự luật quy định rất rõ ràng về sự hạn chế quyền tự do
ngôn luận.

Đó là Đạo luật chống nổi loạn (Sedition Act) năm 1798, được thông qua
dưới thời chính quyền John Adams, vào thời điểm người Ailen và người
Pháp ở Hoa Kỳ bị coi là những kẻ nổi dậy nguy hiểm, sau các cuộc nổi loạn
của người Pháp và người Ailen thời gian gần đó. Đạo luật về Nổi loạn kết
tội những ai nói hoặc viết điều gì “sai trái, phỉ báng và gây hại” chống lại
chính phủ, Quốc hội hoặc Tổng thống, với mục đích hạ uy tín, bôi nhọ,
hoặc kích động công chúng thù ghét họ.

Đạo luật này dường như vi phạm trực tiếp Tu chính án số 1. Nhưng nó vẫn
được ban hành và có hiệu lực. Mười người Mỹ đã bị bỏ tù vì những lời nói
chống lại chính phủ, mặc dù tất cả thành viên Tòa án Tối cao những năm
1798-1800, với tư cách thẩm phán tại tòa phúc thẩm, đều cho rằng điều đó
là hợp Hiến pháp.

Có cơ sở pháp lý cho vấn đề này, mà chỉ các chuyên gia pháp luật biết,
nhưng không người Mỹ bình thường nào biết – những người đọc Tu chính
án số 1 và tự tin rằng họ được bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Cơ sở này đã
được nhà sử học Leonard Levy giải thích. Levy chỉ ra rằng, người ta nói
chung đã hiểu là (không phải ở trong dân chúng, mà ở tầng cao hơn) mặc dù
Tu chính án số 1 đã có hiệu lực, nhưng luật của Anh quốc về “tội phỉ báng
gây nổi loạn” vẫn có hiệu lực ở Mỹ. Điều đó có nghĩa là khi chính phủ
không thể thực hiện được việc “kiềm chế từ trước” – nghĩa là ngăn chặn